Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Các Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc

Luận văn thạc sĩ phân tích bảo đảm quyền con người trong cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Hải Phòng, nêu thực tiễn và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2016

104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

1.1. Khái quát về quyền con người và việc bảo đảm quyền con người

1.2. Khái quát về quyền con người

1.3. Nhận thức về bảo đảm quyền con người

1.4. Cơ sở pháp lý, công cụ, đặc điểm, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.5. Cơ sở pháp lý của việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.6. Công cụ bảo đảm quyền con người trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.7. Đặc điểm của việc bảo đảm quyền con người trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.8. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.9. Quan điểm của các tổ chức quốc tế liên quan đến vấn đề tập trung cai nghiện bắt buộc và bảo vệ quyền con người trong các trại cai nghiện ma túy

1.9.1. Quan điểm của các tổ chức quốc tế về vấn đề tập trung cai nghiện bắt buộc

1.9.2. Quan điểm của Liên hợp quốc liên quan đến bảo vệ quyền con người trong các trại cai nghiện ma túy

1.10. Khung pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền con người trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.10.1. Quy định về việc đưa người vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.10.2. Quy định về việc bảo vệ quyền của học viên trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc

1.10.3. Quy định về việc quyền được hỗ trợ để tái hòa nhập cộng đồng của học viên trong các cơ sở cai nghiện

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1. Khái quát tình hình đưa người nghiện ma túy vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc ở thành phố Hải Phòng

2.2. Thực trạng đảm bảo quyền con người trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc tại thành phố Hải Phòng

2.3. Những tồn tại, hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc ở Hải Phòng và nguyên nhân

2.3.1. Những tồn tại, hạn chế

2.3.2. Một số nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

3.1. Các quan điểm về nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong các cơ sở cai nghiện bắt buộc

3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc

3.2.1. Các giải pháp trực tiếp

3.2.2. Các giải pháp về hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về công tác cai nghiện

3.2.3. Các giải pháp về tổ chức, thực hiện công tác cai nghiện

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quyền Con Người Trong Cơ Sở Cai Nghiện

Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là một phạm trù đa diện, được tiếp cận, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người, song theo Văn phòng Cao ủy của Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) thì: “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”. Ở Việt Nam cũng đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Theo quan điểm của các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc, quyền con người có những thuộc tính cơ bản sau đây: tính phổ biến, tính không thể bị tước bỏ, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.

1.1. Khái Niệm Quyền Con Người và Các Thuộc Tính Cơ Bản

Quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Các thuộc tính cơ bản bao gồm tính phổ biến (áp dụng cho tất cả mọi người), tính không thể bị tước bỏ (không thể tùy tiện bị tước bỏ) và tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau (các quyền có sự liên hệ chặt chẽ). Ví dụ, quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân là những quyền dân sự, chính trị cơ bản. Quyền lao động, quyền học tập, quyền hưởng an sinh xã hội là những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cơ bản.

1.2. Phân Loại Quyền Con Người Dân Sự Chính Trị Kinh Tế Xã Hội

Hệ thống các quyền con người có thể được phân loại theo các lĩnh vực chủ yếu. Nhóm quyền dân sự, chính trị liên quan đến sự tồn tại tự nhiên của con người trong xã hội và mối quan hệ giữa công dân và nhà nước. Nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa phản ánh nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nước với công dân. Ngoài ra, còn có các quyền của nhóm hay quyền tập thể như quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số, người lao động di trú, người tị nạn, quyền tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền sống trong hòa bình.

II. Bảo Đảm Quyền Con Người Nghĩa Vụ Của Cơ Sở Cai Nghiện

Thuật ngữ “bảo đảm” theo Từ điển tiếng Việt được hiểu là: “Làm cho chắc chắn được thực hiện, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”. Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm quyền con người, nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là: Nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực hiện. Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi các nhà nước phải thừa nhận tính chất tự nhiên, vốn có của quyền con người, từ đó không được tùy tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụ hưởng các quyền con người. Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi các nhà nước phải chủ động có những biện pháp ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm quyền con người của bất kỳ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Nghĩa vụ thực hiện đòi hỏi các nhà nước phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ những cá nhân và nhóm mà khô...

2.1. Ba Nghĩa Vụ Của Nhà Nước Trong Bảo Đảm Quyền Con Người

Nhà nước có ba nghĩa vụ chính: tôn trọng (không can thiệp vào việc thụ hưởng quyền), bảo vệ (ngăn chặn hành vi vi phạm quyền) và thực hiện (hỗ trợ để quyền được thực hiện). Ví dụ, nhà nước không được tùy tiện tước bỏ quyền tự do ngôn luận (tôn trọng), phải xử lý hành vi phân biệt đối xử (bảo vệ) và tạo điều kiện để người dân tiếp cận giáo dục (thực hiện).

2.2. Các Biện Pháp Bảo Đảm Quyền Lợi Cho Người Cai Nghiện Bắt Buộc

Các biện pháp bảo đảm quyền lợi cho người cai nghiện bắt buộc bao gồm: đảm bảo quyền được thông tin về quy trình cai nghiện, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, quyền được khiếu nại, tố cáo khi bị xâm phạm quyền lợi. Các cơ sở cai nghiện phải có quy trình rõ ràng, minh bạch để bảo vệ các quyền này.

III. Pháp Luật Việt Nam Về Quyền Con Người Trong Cai Nghiện

Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân, vì dân - một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế. Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt một cách tùy tiện. Nó hiện hữu trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó bao gồm các cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc (sau đây viết tắt thành “cơ sở cai nghiện bắt buộc”). Nghiện ma túy là một loại bệnh đặc biệt. Người nghiện ma túy (người nghiện) là những đối tượng có khả năng cao gây ra những hành vi nguy hiểm, gây mất trật tự an toàn xã hội, vì thế cần phải quản lý bằng các quy định đặc biệt. Đó là lý do nhà nước ta và một số nhà nước khác lập ra các trại cai nghiện bắt buộc.

3.1. Quy Định Pháp Luật Về Đưa Người Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc

Pháp luật quy định rõ các trường hợp được đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy trình thực hiện và quyền của người bị đưa vào. Việc đưa người vào phải tuân thủ đúng quy định, đảm bảo tính minh bạch, công khai và bảo vệ quyền của người bị áp dụng biện pháp này. Cần có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng để tránh lạm dụng.

3.2. Quyền Của Học Viên Trong Cơ Sở Cai Nghiện Hỗ Trợ Tái Hòa Nhập

Học viên trong cơ sở cai nghiện có quyền được bảo vệ sức khỏe, được học tập, lao động, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, được tư vấn tâm lý, được hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng sau khi cai nghiện. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để học viên thực hiện các quyền này.

IV. Thực Trạng Bảo Đảm Quyền Con Người Tại Hải Phòng

Ở thành phố Hải Phòng thời gian gần đây cũng xảy ra hiện tượng học viên cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục và Lao động Xã hội Gia Minh của Tổng đội Thanh niên xung phong, trực thuộc Thành Đoàn Hải Phòng phá trại bỏ trốn. Thực trạng này đặt ra yêu cầu tiến hành nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Là một cán bộ đang làm việc tại Thành phố Hải Phòng, học viên quyết định chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người trong cơ sở cai nghiện bắt buộc - qua thực tiễn TP Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình với mong muốn góp phần tìm ra giải pháp cho vấn đề nêu trên.

4.1. Tình Hình Đưa Người Nghiện Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc Ở Hải Phòng

Cần phân tích số liệu thống kê về số lượng người nghiện được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ở Hải Phòng trong những năm gần đây, đánh giá hiệu quả của công tác này và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại. Cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình này, như chính sách của nhà nước, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.

4.2. Tồn Tại Và Hạn Chế Trong Bảo Đảm Quyền Con Người Tại Hải Phòng

Chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc ở Hải Phòng, như điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, quy trình cai nghiện, việc thực hiện các quyền của học viên. Phân tích nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế này, như thiếu nguồn lực, thiếu sự quan tâm, thiếu cơ chế giám sát.

V. Giải Pháp Nâng Cao Bảo Đảm Quyền Trong Cơ Sở Cai Nghiện

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giải quyết hài hòa mối quan hệ đó, sao cho vừa đảm bảo quyền con người của 1 người nghiện ma túy vừa thực hiện được mục tiêu quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

5.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Cai Nghiện và Bảo Vệ Quyền Lợi

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về cai nghiện, đảm bảo phù hợp với Hiến pháp, pháp luật quốc tế về quyền con người. Cần quy định rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của học viên, trách nhiệm của cơ sở cai nghiện, cơ chế giám sát và xử lý vi phạm.

5.2. Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ và Cơ Sở Vật Chất Cai Nghiện

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác cai nghiện về kiến thức pháp luật, kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp. Cần đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở cai nghiện, đảm bảo điều kiện sinh hoạt, học tập, lao động tốt cho học viên.

VI. Quan Điểm Về Quyền Con Người Trong Cai Nghiện Bắt Buộc

Mặc dù vậy, người nghiện ma túy không phải là tội phạm, họ cũng có những quyền con người như một người bình thường khác, trừ quyền được tự do cư trú và đi lại. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý các cơ sở cai nghiện ma túy của nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, trong đó có nhiều hành vi của nhà quản lý đã xâm hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền và lợi ích của người nghiện. Hậu quả là trong thời gian gần đây đã xảy ra nhiều vụ học viên tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc ở một số địa phương tấn công cán bộ quản lý, phá trại, trốn trại. Thực trạng trên cho thấy giữa việc bảo đảm quyền con người của người nghiện ma túy và việc quản lý những đối tượng này để đảm bảo an ninh trật tự xã hội đang có sự xung đột với nhau.

6.1. Kết Hợp Hài Hòa Quyền Con Người và Quản Lý Cai Nghiện

Cần tìm ra giải pháp để kết hợp hài hòa giữa việc bảo đảm quyền con người của người nghiện ma túy và việc thực hiện mục tiêu quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cần xây dựng quy trình cai nghiện khoa học, nhân văn, tôn trọng quyền của học viên, đồng thời đảm bảo an ninh, trật tự trong cơ sở cai nghiện.

6.2. Tăng Cường Giám Sát và Đánh Giá Hiệu Quả Cai Nghiện

Cần tăng cường giám sát hoạt động của các cơ sở cai nghiện, đảm bảo tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền của học viên. Cần đánh giá hiệu quả của công tác cai nghiện, từ đó có những điều chỉnh phù hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này.

08/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC 1. Khái quát về quyền con người và việc bảo đảm quyền con người 1. Khái quát về quyền con người Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là một phạm trù đa diện, được tiếp cận, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.

Có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người, song theo Văn phòng Cao ủy của Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) thì: “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [34, tr. Ở Việt Nam cũng đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [34, tr. Theo quan điểm của các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc, quyền con người có những thuộc tính cơ bản sau đây: - Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân…và bất kỳ yếu tố nào khác.

Mọi cá nhân, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và tự do cơ bản. 7 z - Tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Chỉ trong một số trường hợp nhất định, pháp luật có thể quy định những hạn chế hoặc chế tài tước bỏ một số quyền con người để bảo vệ an ninh, trật tự xã hội và các quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân khác. Ví dụ, tù nhân bị giam do thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội ác nghiêm trọng có thể bị kết án tử hình.

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Tất cả các quyền con người có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia. Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác. Ví dụ, nếu một người không được làm việc, không có một mức sống đảm bảo cho sự sống còn của cá nhân thì người đó sẽ ít chú ý và không có điều kiện thực hiện các quyền dân chủ như quyền bầu cử hoặc quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội. Quyền con người là một phạm trù rộng lớn, bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Dù vậy, hệ thống các quyền con người có thể được phân loại theo các lĩnh vực chủ yếu sau đây: - Nhóm các quyền dân sự, chính trị: Đây là các quyền quan trọng của con người, có liên quan đến sự tồn tại tự nhiên, tất yếu của con người trong xã hội và mối quan hệ giữa các công dân và nhà nước. Các quyền dân sự, chính trị cơ bản bao gồm quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, bí mật thư tín, điện tín; quyền bầu cử, ứng cử; quyền được tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Theo quan điểm của các học giả tư sản, đây được coi là nhóm quyền quan trọng nhất của con người [53, tr. - Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa: Đây là nhóm quyền được các nước XHCN trước đây nhấn mạnh.

Nó phản ánh không chỉ mối 8 z quan hệ mà còn nghĩa vụ, trách nhiệm của các nhà nước với công dân của mình. Các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá cơ bản bao gồm: quyền lao động, quyền học tập, quyền hưởng an sinh xã hội, các quyền về văn hoá, sáng tạo và hưởng thụ các thành tựu của khoa học kỹ thuật… Ngoài các quyền cá nhân nêu trên, theo quan điểm của cộng đồng quốc tế, quyền con người còn bao gồm các quyền của nhóm hay quyền tập thể như quyền của phụ nữ, quyền của trẻ em, quyền của người khuyết tật, quyền của người thiểu số, quyền của người lao động di trú, quyền của người tị nạn…, quyền tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền sống trong hoà bình, trong môi trường trong lành… 1. Nhận thức về bảo đảm quyền con người Thuật ngữ “bảo đảm” theo Từ điển tiếng Việt được hiểu là: “Làm cho chắc chắn được thực hiện, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [16, tr. Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm quyền con người, nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là: Nghĩa vụ tôn trọng: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải thừa nhận tính chất tự nhiên, vốn có của quyền con người, từ đó không được tùy tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụ hưởng các quyền con người.

Nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải chủ động có những biện pháp ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm quyền con người của bất kỳ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ những cá nhân và nhóm mà không thể tự hưởng thụ các quyền con người của họ, ví dụ như những người khuyết tật. Từ một góc độ khác, bảo đảm quyền con người bao gồm bao gồm các khía cạnh sau đây: 9 z Bảo đảm chính trị: Mỗi cá nhân là thành viên của một chế độ chính trị - xã hội nhất định, không thể đứng ngoài các mối quan hệ giai cấp, cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Bảo đảm chính trị nghĩa là tạo ra một môi trường chính trị, pháp lý thuận lợi để ghi nhận, bảo vệ và thực hiện các quyền con người.

Thể chế chính trị nào đề cao giá trị con người, đồng thời coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì trong thể chế đó cá nhân được bảo đảm đầy đủ các quyền tự do của mình. Theo nghĩa đó, bảo đảm về chính trị gắn liền với nghĩa vụ của các nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Dù vậy, bảo đảm về chính trị cũng gắn với vai trò đấu tranh của các tổ chức, cá nhân trong việc cải thiện môi trường chính trị, pháp lý theo hướng dân chủ, tiến bộ, tôn trọng nhân quyền [14, tr. Bảo đảm kinh tế: Bảo đảm kinh tế là việc tạo ra tiền đề vật chất để hiện thực hoá các quyền con người.

Các quyền con người không thể được thực hiện đầy đủ trong một xã hội đói nghèo, lạc hậu. Đặc biệt, các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá sẽ trở thành hình thức nếu không có nguồn lực vật chất để bảo đảm. Theo nghĩa đó, bảo đảm về kinh tế gắn liền với nghĩa vụ của các nhà nước trong việc thực hiện quyền con người. Dù vậy, bảo đảm về kinh tế cũng gắn với trách nhiệm của mọi cá nhân trong việc lao động, làm việc để đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội, cũng như để thoả mãn các nhu cầu vật chất của cá nhân và gia đình mình.

Bảo đảm xã hội: Bảo đảm về xã hội là việc tạo ra môi trường văn hoá, cộng đồng thuận lợi cho việc hiện thực hoá các quyền con người. Các điều kiện về chính trị và kinh tế là cần nhưng chưa đủ để cho các quyền con người được tôn trọng và thực hiện đầy đủ. Minh chứng là một số nước có điều kiện kinh tế, chính trị tương tự song nhưng mức độ bảo đảm quyền con người có thể khác nhau. Điều này chứng tỏ các yếu tố lịch sử, truyền thống, văn hóa có thể có tác động tích cực hay tiêu cực đến việc hưởng thụ những quyền con 10 z người nhất định.

Bảo đảm về xã hội liên quan đến tất cả các nghĩa vụ của nhà nước trong vấn đề nhân quyền, tuy nhiên gắn nhiều hơn với nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện. Bên cạnh đó, bảo đảm về xã hội cũng đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải nỗ lực đóng góp xây dựng và cải thiện môi trường văn hoá, xã hội mà trong đó các quyền con người được tôn trọng và đề cao, sự chuyên chế, tàn bạo, bất bình đẳng, bất công và những hành vi bạo lực bị lên án và loại trừ [14, tr. Bảo đảm pháp lý: Sự phân định thành các hình thức bảo đảm nêu trên chỉ mang tính chất tương đối. Tất cả các yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa có ý nghĩa quan trọng, song pháp luật có ý nghĩa trực tiếp nhất với việc bảo đảm thực hiện các quyền con người, vì về mặt hình thức, các bảo đảm khác đều cần được thể hiện qua pháp luật.

Theo nghĩa đó, bảo đảm pháp lý được xây dựng trên cơ sở của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định và tác động trở lại đến sự phát triển của các điều kiện ấy. Bảo đảm pháp lý thể hiện ở việc pháp điển hoá các quyền con người và quy định các cơ chế, biện pháp để tổ chức thực hiện và ngăn ngừa, xử lý những vi phạm các quyền con người trong hệ thống pháp luật. Pháp luật càng phát triển, quyền con người của các cá nhân trong xã hội càng được tôn trọng và bảo đảm, vì pháp luật tạo hành lang an toàn và rõ ràng cho công dân khi tham gia vào các quan hệ xã hội, và xác định những giới hạn cho Nhà nước khi thực hiện quyền lực của mình. Ngoài ra, pháp luật giúp các cá nhân hiểu biết và có vũ khí để bảo vệ các quyền của mình khi bị vi phạm.

Từ góc nhìn của luật học, các bảo đảm pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốt lõi, là sự thể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ