CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN 1. Quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Trong tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng bao gồm các đương sự. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm [6, Điều 68, Khoản 3].
Như vậy, bị đơn có một số đặc điểm sau: Một là, là chủ thể do nguyên đơn, hoặc người khởi kiện vì lợi ích của người khác khởi kiện đích danh ra trước tòa án, trong đơn khởi kiện luôn chỉ rõ, đầy đủ tên tuổi của người bị kiện. Việc kiện đích danh ai sẽ là cơ sở cho việc xác định tư cách của bị đơn. Hai là, bị đơn là người bị cho rằng đã xâm phạm đến quyền của nguyên đơn, hoặc người được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ, hoặc đang có tranh chấp về quyền lợi cần được tòa án phán xử. Đây mới chỉ là giả thiết ban đầu, về sau bị đơn có quyền phản tố (kiện ngược lại), có nghĩa bị đơn trở thành nguyên đơn.
Ba là, bị đơn tham gia quan hệ tố tụng dân sự sau khi bị nguyên đơn khởi kiện vì vậy thường bị thụ động so với nguyên đơn, thường tham gia quan hệ sau khi tòa án đã thụ lý vụ án và có thông báo của tòa án. Để bảo đảm các quyền của đương sự trong vu án dân sự, pháp luật tố 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tụng dân sự một mặt ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của các đương sự, đồng thời tạo mọi điều kiện, tiền đề để các đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ. Trong tố tụng dân sự, các đương sự có quyền và nghĩa vụ như nhau, gồm các quyền: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho tòa án; đề nghị tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản. Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật TTDS.
Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ. Đề nghị tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do tòa án tiến hành. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này. Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định của Bộ luật này. Đề nghị tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.
Đề nghị tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này. Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng. Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Được cấp trích lục bản án, bản án, quyết định của tòa án.
Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của tòa án theo quy định của Bộ luật này. Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Trong quan hệ tố tụng dân sự, có thể sảy ra tình huống người khởi kiện “trở thành” bên bị kiện và người bị kiện “trở thành” người khởi kiện. Vì vậy, ngoài những quyền chung của đương sự nói trên, người bị khởi kiện có những quyền, nghĩa vụ đặc thù, bao gồm: được tòa án thông báo về việc bị khởi kiện; chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của BLTTDS; đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của BLTTDS. Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác. Việc giải quyết vụ án dân sự của tòa án được bắt đầu từ khi tiếp nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, đến quá trình hòa giải, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (không phải vụ án nào cũng qua tất cả các giai đoạn tố tụng nói trên).
Các đương sự nói chung, bị đơn nói riêng đều có quyền tham gia vào các giai đoạn của quá trình tố tụng để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình (đối với bị đơn thường tham gia sau khi nhận được thông báo của tòa án về việc bị người khác khởi kiện). Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu quyền của bị đơn trong giải 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết vụ án dân sự của tòa án là một tập hợp các quyền, là khả năng của bị đơn tham gia quan hệ tố tụng dân sự được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khái niệm, đặc điểm, vai trò đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự 1. Khái niệm đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự Khái niệm “đảm bảo”, theo Từ điển Hành chính, là trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường.
Đảm bảo được tiến hành bằng những biện pháp đảm bảo nghĩa vụ dân sự như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, phạt vi phạm [2, tr. “Đảm bảo” tiếng Anh là “assure”, tiếng Pháp là “assurer” là tạo điều kiện để con người thực hiện được (giữ gìn được) những gì cần thiết. Thuật ngữ “đảm bảo” khác với “bảo vệ”, “bảo hộ” như “bảo vệ” thường đề cập đến việc ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý khi có vi phạm, còn “bảo hộ” là việc che chở, không để con người bị tổn thất bất cứ cái gì. Theo quan điểm của GS.
Phạm Hồng Thái, đảm bảo các quyền của công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức thực hiện được các quyền tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận [13, tr. Đinh Văn Mậu cho rằng, đảm bảo các quyền, tự do cá nhân công dân là tạo ra một môi trường mà mỗi cá nhân nhận thấy là thực sự được an toàn, được Nhà nước bảo vệ tài sản, danh dự, tính mạng và quyền, tự do cá nhân [3, tr. Luận văn sử dụng thuật ngữ “đảm bảo” khi đề cập đến “đảm bảo quyền của đương sự”, bị đơn nhằm hướng đến nghiên cứu các nội dung, điều kiện để đương sự, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong đó có bị đơn thực hiện được những quyền của họ đã được pháp luật quy định trong tố tụng dân sự. Đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự là một lĩnh vực đảm bảo quyền tư pháp của người bị kiện để thực hiện đúng các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự cần phải đặt nó trong mối quan hệ mật thiết với đảm bảo quyền của công dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự là việc tạo các điều kiện, tiền đề, các yếu tố cần thiết cho quá trình thực hiện quyền của bị đơn nhằm làm cho hoạt động tố tụng có hiệu lực, hiệu quả cao nhất. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, sự khác biệt về đảm bảo quyền của công dân trong các lĩnh vực không chỉ bằng pháp luật mà còn bằng nhiều phương thức như đảm bảo về chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội. Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: đảm bảo quyền của bị đơn trong giải quyết các vụ án dân sự của tòa án là việc nhà nước thiết lập các điều kiện cần thiết nhằm ghi nhận, tôn trọng và đáp ứng các quyền của người bị kiện trong quá trình giải quyết các khiếu kiện dân sự bằng con đường tố tụng, thông qua hoạt động xét xử của tòa án nhân dân theo một cơ chế riêng được điều chỉnh bởi Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử vụ án dân sự.