Đặt vấn đề Cạnh tranh trên thương trường ngày một quyết liệt, sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã xóa đi mọi rào cản về không gian và địa lý. Nhờ vào công nghệ, họ có thể tiếp cận thông tin về sản phẩm tốt hơn, có nhiều sự lựa chọn hơn. Vì vậy, để kích thích việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, công ty cần phải thuyết phục, phải chứng minh cho người tiêu dùng thấy tính ưu việt sản phẩm của mình so với các sản phẩm của các công ty khác. Không chỉ thế, công ty còn phải xây dựng quan hệ với khách hàng nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường và xây dựng một hình ảnh công ty thân thiện với khách hàng.
Chính từ những yêu cầu đó đã làm cho hoạt động marketing trở nên quan trọng đối với các công ty, quyết định đến sự tồn tại cũng như phát triển của công ty, hướng công ty đến sự thành công, phát huy những nỗ lực hiện có của mình để tạo nên lợi thế cạnh tranh và phát triển một cách bền vững trong môi trường cạnh tranh ngày nay.Để có thể thành công trên thị trường, các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm - trang thiết bị y tế không những phải chú ý vào đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tích cực vận dụng kiến thức kinh doanh, kiến thức Marketing cho phù hợp để tồn tại và phát triển thị trường. Dược phẩm - trang thiết bị y tế là loại hàng hóa đặc biệt, nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người. Do đó, kinh doanh dược phẩm vừa mang tính chất thương mại, vừa phải đáp ứng các quy chế chuyên môn và phục vụ tốt cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Hoạt động Marketing dược phẩm - trang thiết bị y tế cũng có điểm khác với hoạt động Marketing các hàng hóa thông thường, mục tiêu của Marketing ngoài mục tiêu kinh tế còn có mục tiêu sức khỏe.
Công ty cổ phần Armephaco là công ty hoạt động trong lĩnh vực dược phẩm - trang thiết bị y tế, marketing đóng vai trò quan trọng trong quảng bá sản phẩm, thu hút và duy trì lòng trung thành của khách hàng trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, các chương trình Marketing của công ty vẫn chưa thực sự tạo được những ấn tượng sâu sắc cho khách hàng, chưa có tính sáng tạo và còn nhiều bất cập trong các chính sách về Marketing. Xuất phát từ thực tiễn trên, nhóm chọn đề tài “ Chính sách Marketing của Công ty cổ phần Armephaco ” với mong muốn đưa ra được một số giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa vai trò của chính sách marketing đối với sự phát triển của công ty.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách marketing của Công ty cổ phần Armephaco và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing của Công ty cổ phần Armephaco.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về marketing dược phẩm - trang thiết bị y tế - Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách Marketing của Công ty cổ phần Armephaco - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing của Công ty cổ phần Armephaco.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Báo cáo chủ yếu nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến chính sách marketing của Công ty cổ phần Armephaco trong lĩnh vực dược phẩm từ năm 2018 đến năm 2020 1.2 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Nội dung nghiên cứu: Chính sách marketing của Công ty cổ phần Armephaco 1.2 Không gian: Công ty cổ phần Armephaco 1.3 Thời gian: Thực tập từ ngày 14/06/2020 đến ngày 11/07/2021 1.4 Phương pháp nghiên cứu 1.1 Phương pháp thu thập thông tin 7 1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp Phương Thông tin thu thập Nguồn thu thập pháp thu thập - Tổng quan chung. - Nguồn tài liệu: Bộ Tổng hợp phận hành chính nhân và chọn lọc - Lịch sử hình thành Công ty cổ phần sự , bộ phận tổng hợp, từ các tài Armephaco bộ phận kinh doanh.
liệu do công - Nguồn cung cấp tài ty cung cấp. - Thông tin về sản phẩm mà doanh liệu: Công ty cổ phần nghiệp đang sản xuất kinh doanh. Armephaco - Cơ cấu tổ chức công ty. - Tình hình sử dụng lao động giai đoạn 2017-2019.
- Tình hình tài sản - nguồn vốn của công ty giai đoạn 2017-2019. - Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2017-2019. - Chính sách Marketing của công ty (Nguồn : Nhóm sinh viên tự tổng hợp năm 2021) 1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp Sử dụng các phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn trực tiếp nhân viên, quản lý ở các bộ phận của công ty cổ phần Armephaco để thu thập thông tin 1.2 Phương pháp xử lý số liệu - Thông tin được xử lý bằng Excel trên máy tính.3 Phương pháp phân tích số liệu 1.1 Phương pháp thống kê mô tả - Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt dữ liệu.3 Phương pháp thống kê so sánh - Căn cứ vào số liệu dựa trên các chỉ tiêu để phân tích, so sánh các số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để thấy được sự thay đổi của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận của công ty. + So sánh số tuyệt đối: xác định mức biến động tuyệt đối của các chỉ tiêu phân tích đồng thời cho biết quy mô sự thay đổi giữa hai kỳ phân tích của chỉ tiêu kinh tế nào đó.
+ So sánh số tương đối: xác định mức độ đạt được của các chỉ tiêu kỳ phân tích so với kỳ gốc, làm rõ bản chất của các hiện tượng nghiên cứu thông qua só sánh các chỉ tiêu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau. + So sánh số bình quân: xác định mức độ đạt được của các chỉ tiêu phân tích.5 Cơ sở lý thuyết của nội dung nghiên cứu 1.1 Một số khái niệm về Marketing Marketing là một khoa học về sự trao đổi, nó nghiên cứu và giải quyết tất cả các quan hệ trao đổi giữa một tổ chức với môi trường bên ngoài, giúp cho tổ chức đó đạt được mục tiêu của nó. Trong kinh doanh, marketing là tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu thông qua quá trình trao đổi, giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.2 Xây dựng chính sách Marketing-mix trong trong doanh nghiệp - Marketing-mix hay còn gọi là Marketing hỗn hợp chỉ tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp sử dụng để đạt được mục tiêu tiếp thị trên thị trường. - Marketing mix vốn được phân loại theo mô hình 4P gồm có: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Place (phân phối), Promotion (xúc tiến) được sử dụng trong hoạt động Marketing hàng hóa.
9 + Chính sách sản phẩm: Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục 7 đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng. Khi xem xét chính sách sản phẩm, doanh nghiệp cần đưa ra các quyết định: Các quyết định về nhãn hiệu và bao gói sản phẩm Quyết định về dịch vụ sản phẩm Quyết định về chủng loại và danh mục sản phẩm Quyết định về chất lượng sản phẩm Quyết định thiết kế và marketing sản phẩm mới. + Chính sách giá: Với hoạt động trao đổi: giá là mối tương quan trao đổi trên thị trường. Với người mua: giá cả của một sản phẩm, dịch vụ là một khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó.
Với người bán: giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó. Các chính sách giá mà doanh nghiệp thường áp dụng đó là: Chính sách giá “hớt váng”: là việc doanh nghiệp đặt giá bán sản phẩm của mình ở mức cao nhất có thể, cho những đoạn thị trường người mua sẵn sàng chấp nhận sản phẩm mới đó. Chính sách giá “thâm nhập”: là việc doanh nghiệp ấn định mức giá bán sản phẩm thấp hoặc ngang bằng với sản phẩm cạnh tranh với hy vọng hấp dẫn, thu hút nhiều khách hàng. Chính sách giá phân biệt :là việc doanh nghiệp sẽ bán những sản phẩm cùng loại với những mức giá khác nhau cho các khách hàng khác nhau.
Chính sách thay đổi giá : là việc doanh nghiệp tiến hành điều chỉnh mức giá cơ bản của mình thông qua các hình thức: 10 chính sách giảm giá, chính sách tăng giá, thực hiện giá khuyến mại. + Chính sách phân phối: Kênh phân phối là một tổ chức hệ thống các quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân bên ngoài để quản lý các hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện các mục tiêu trên thị trường của doanh nghiệp. Cấu trúc kênh phân phối là một nhóm các thành viên của kênh mà tập hợp các công việc phân phối được phân chia cho họ. Có hai yếu tố cơ bản phản ánh cấu trúc của một kênh phân phối: chiều dài và chiều rộng của kênh.
Cấu trúc kênh phân phối cho hàng hóa tiêu dùng cá nhân bao gồm: kênh phân phối trực tiếp, kênh một cấp, kênh hai cấp, kênh ba cấp. Ngoài ra có thể có kênh phân phối nhiều cấp hơn. Hiện nay có 4 hình thức tổ chức kênh phân phối: kênh phân phối truyền thống, hệ thống kênh liên kết dọc (VMS), hệ thống kênh ngang, hệ thống đa kênh. Các chính sách phân phối thường được sử dụng bao gồm: Chính sách phân phối rộng rãi: có nghĩa là doanh nghiệp bán sản phẩm qua vô số trung gian thương mại ở mỗi cấp độ phân phối.
Chính sách phân phối duy nhất (độc quyền) nghĩa là trên mỗi khu vực thị trường, doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm qua một trung gian thương mại duy nhất. Chính sách phân phối chọn lọc nghĩa là doanh nghiệp bán sản phẩm qua một số trung gian thương mại được chọn lọc theo những tiêu chuẩn nhất định ở mỗi cấp độ phân phối. + Chính sách xúc tiến: Xúc tiến hỗn hợp (promotion mix) bao gồm năm công cụ: Một là, quảng cáo: là những hình thức truyền thông không trực tiếp, phi cá nhân, được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tin và các chủ thể quảng cáo phải chịu chi phí.