Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction - ADR) theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2002) là phản ứng độc hại, không được định trước, xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán, chữa bệnh hoặc thay đổi một chức năng sinh lý. Trong điều trị ung thư, ADR xuất hiện với tần suất cao và mức độ phức tạp lớn do đặc thù hầu hết các thuốc hóa trị có khoảng điều trị hẹp và độc tính tế bào cao. Theo các nghiên cứu quốc tế, dù nhiều biến cố bất lợi được xem là khó tránh khỏi, vẫn có từ 45% đến 49% các phản ứng có thể phòng ngừa được nếu có quy trình giám sát và can thiệp kịp thời.

Hoạt động Cảnh giác Dược và hệ thống báo cáo ADR tự nguyện giữ vai trò then chốt trong việc phát hiện các tín hiệu an toàn thuốc trong thực hành lâm sàng. Tại Việt Nam, dữ liệu từ Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc (Trung tâm DI & ADR Quốc gia) giai đoạn 2021–2022 cho thấy nhóm thuốc điều trị ung thư liên tục đứng thứ 8 trong số 10 nhóm dược lý có số lượng báo cáo ADR nhiều nhất (chiếm 4,7% năm 2021 và 3,5% năm 2022). Tuy nhiên, hoạt động báo cáo tự nguyện tại các cơ sở khám chữa bệnh vẫn còn gặp tình trạng báo cáo thiếu (under-reporting) và chất lượng thông tin chưa đồng đều giữa các chuyên khoa.

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa trung ương hạng I trực thuộc Bộ Y tế với quy mô hơn 1.000 giường bệnh và 62 khoa, phòng, trung tâm. Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh viện E là đơn vị chuyên khoa tiếp nhận điều trị nhiều mặt bệnh ung thư với phác đồ hóa trị liệu phức tạp. Để đánh giá thực trạng giám sát an toàn thuốc, khóa luận tốt nghiệp ngành Dược học của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ánh (Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023) đã thực hiện đề tài nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E gửi về Trung tâm DI & ADR Quốc gia giai đoạn từ tháng 01/2022 đến tháng 03/2023.
  2. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hóa trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2023.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các báo cáo ADR của Bệnh viện E và các báo cáo ADR liên quan đến thuốc hóa trị tại Trung tâm Ung bướu gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia.
  • Không gian nghiên cứu: Khoa Dược và Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E.
  • Thời gian nghiên cứu: Thu thập và phân tích dữ liệu thực hiện từ tháng 11/2022 đến tháng 05/2023 (thời gian dữ liệu hồi cứu và tiến cứu kéo dài từ 01/2022 đến 05/2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung pháp lý áp dụng

Khóa luận xây dựng nội dung phân tích dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn chuyên môn hiện hành:

  • Quy định tổ chức và hoạt động Cảnh giác Dược: Thông tư số 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện; Quyết định số 29/QĐ-BYT ban hành "Hướng dẫn giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh".
  • Phân loại bệnh tật và dược lý: Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10 của WHO; Hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC - Anatomical Therapeutic Chemical).
  • Đánh giá mức độ nghiêm trọng và độc tính hóa trị: Bảng kiểm giám sát tác dụng không mong muốn, độc tính của hóa trị theo Quyết định số 3809/QĐ-BYT ngày 27/08/2019 của Bộ Y tế và thang phân loại mức độ nghiêm trọng của WHO.
  • Đánh giá mối liên quan nhân quả (Causality assessment): Thang đánh giá xác suất ADR của Naranjo (Naranjo Algorithm) với các mức phân loại: Chắc chắn (>9 điểm), Có khả năng (5–8 điểm), Có thể (1–4 điểm), Không chắc chắn (0 điểm).
  • Đánh giá chất lượng báo cáo: Thang điểm VigiGrade theo hệ thống Documentation grading của Trung tâm Giám sát an toàn thuốc Uppsala thuộc WHO (WHO-UMC). Điểm hoàn thành báo cáo ($C$) của một cặp thuốc – ADR được xác định theo công thức toán học:

$$C = \prod_{i=1}^{10} (1 - P_i)$$

Trong đó $P_i$ là điểm phạt cho từng trường thông tin bị thiếu. Báo cáo đạt điểm $C \ge 0{,}8$ được xếp loại chất lượng tốt; $C < 0{,}8$ là chất lượng chưa tốt; báo cáo thiếu tên thuốc hoặc mô tả ADR nhận 0 điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, phối hợp giữa hồi cứu dữ liệu và can thiệp tiến cứu chủ động:

  • Nghiên cứu hồi cứu (Mục tiêu 1 & một phần Mục tiêu 2): Trích xuất toàn bộ dữ liệu báo cáo ADR từ cơ sở dữ liệu lưu trữ tại Bệnh viện E đã gửi đến Trung tâm DI & ADR Quốc gia từ tháng 01/2022 đến tháng 03/2023.
  • Nghiên cứu tiến cứu tích cực (Mục tiêu 2): Nhóm nghiên cứu gồm 01 dược sĩ lâm sàng và 01 sinh viên tiến hành giám sát chủ động tại Trung tâm Ung bướu trong tháng 04/2023 và đầu tháng 05/2023. Quy trình tiến cứu gồm:
    1. Rà soát danh mục 68 thuốc điều trị ung thư đang lưu hành tại Bệnh viện E, lập bảng tra cứu tác dụng không mong muốn theo Dược thư Quốc gia Việt Nam.
    2. Theo dõi người bệnh điều trị hóa trị, thực hiện phỏng vấn trực tiếp, ghi nhận triệu chứng bất thường và đối chiếu hồ sơ bệnh án.
    3. Lập hồ sơ báo cáo ADR, thông qua dược sĩ lâm sàng kiểm duyệt chuyên môn và gửi trực tiếp về Trung tâm DI & ADR Quốc gia.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu, quản lý và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề và Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống lý luận về Cảnh giác Dược, lịch sử hình thành mạng lưới giám sát ADR tại Việt Nam từ năm 1994, thành lập Trung tâm DI & ADR Quốc gia (2009) theo Quyết định 991/QĐ-BYT, và thực trạng báo cáo biến cố bất lợi trên thế giới. Tác giả phân tích chi tiết quy trình giám sát ADR chuẩn tại Bệnh viện E bao gồm 4 bước phối hợp đa ngành:

  1. Phát hiện ADR: Điều dưỡng, hộ sinh viên, kỹ thuật viên theo dõi triệu chứng lâm sàng/cận lâm sàng, thông báo cho bác sĩ điều trị và Khoa Dược, giữ lại mẫu vỏ thuốc và ghi nhận các mục cơ bản trên mẫu báo cáo.
  2. Đánh giá và xử trí ADR: Bác sĩ điều trị kiểm tra lại y lệnh, liều dùng, tiền sử dị ứng, xét nghiệm của người bệnh, đánh giá mức độ nghiêm trọng và quyết định phác đồ xử trí lâm sàng.
  3. Hoàn thiện báo cáo ADR: Dược sĩ lâm sàng tra cứu y văn, xác minh số lô, nhà sản xuất, hoàn thiện các trường dữ liệu chuyên sâu.
  4. Gửi báo cáo: Dược sĩ gửi dữ liệu về Trung tâm DI & ADR Quốc gia và lưu bản sao tại Phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện E.

Thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E (01/2022 – 03/2023)

Trong 15 tháng khảo sát, toàn Bệnh viện E ghi nhận 47 báo cáo ADR gửi về Trung tâm DI & ADR Quốc gia.

Chỉ số theo dõi Năm 2022 Quý 1/2023 (01–03/2023) Tổng cộng / Đánh giá chung
Số lượng báo cáo của BV E 35 báo cáo 12 báo cáo 47 báo cáo
Tỷ lệ so với toàn quốc 0,23% (35/14.942) 0,30% (12/4.029) Tỷ lệ đóng góp còn khiêm tốn
Thời gian trì hoãn trung bình 5,69 ngày 5,25 ngày Đạt quy định theo QĐ 29/QĐ-BYT (chỉ 1 ca muộn 23 ngày)
Điểm chất lượng VigiGrade TB 0,95 điểm 1,00 điểm 100% báo cáo quý 1/2023 đạt điểm tối đa

Phân tích cơ cấu khoa phòng và nhân sự tham gia báo cáo cho thấy:

  • Đơn vị báo cáo: Chỉ có 7/36 khoa, phòng trong bệnh viện có gửi báo cáo ADR (chiếm 19,44%). Trung tâm Ung bướu là đơn vị có số lượng báo cáo cao nhất với 21 báo cáo (44,68%), tiếp theo là Khoa Gây mê hồi sức ngoại – Trung tâm Tim mạch với 10 báo cáo (21,28%), Khoa Cơ xương khớp có 7 báo cáo (14,89%), Khoa Gan mật có 5 báo cáo (10,64%), các khoa khác chiếm tỷ lệ nhỏ (Khoa GMHS, Khoa PT Tim mạch - Lồng ngực, Khoa Bệnh nhiệt đới mỗi nơi 1 báo cáo; 1 báo cáo không rõ thông tin).
  • Đối tượng viết báo cáo: 100% người thực hiện và gửi báo cáo (3 cán bộ) đều là Dược sĩ; hoàn toàn chưa có sự tham gia trực tiếp đứng tên gửi báo cáo từ Bác sĩ hay Điều dưỡng.
  • Lý do sử dụng thuốc (ICD-10): Nhóm bệnh U tân sinh (C00–D48) chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,30% (18 báo cáo), tiếp đến là Bệnh hệ tuần hoàn (I00–I99) chiếm 27,66% (13 báo cáo), Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (A00–B99) chiếm 17,02% (8 báo cáo), Bệnh hệ cơ xương khớp (M00–M99) chiếm 10,64% (5 báo cáo) và Bệnh hệ tiêu hóa (K00–K93) chiếm 6,38% (3 báo cáo).
  • Đường dùng thuốc nghi ngờ (N = 66 lượt thuốc): Tiêm, truyền tĩnh mạch chiếm ưu thế tuyệt đối với 84,85% (56 lượt); đường uống chiếm 12,12% (8 lượt); tiêm bắp chiếm 1,52% (1 lượt) và bơm qua sonde dạ dày chiếm 1,52% (1 lượt).
  • Nhóm dược lý theo mã ATC (N = 66 lượt thuốc): Nhóm thuốc chống ung thư chiếm hơn một nửa tổng số thuốc nghi ngờ với 51,52% (34 lượt), bao gồm: L01X (16,67%), L01C (13,64%), L01B (10,61%), L01F (7,58%), L01A (3,03%). Nhóm kháng sinh chiếm 19,70% gồm: J01D (12,12%) và J01X (7,58%). Thuốc chống đông máu B01A chiếm 6,06%.

Thực trạng báo cáo ADR của thuốc hóa trị tại Trung tâm Ung bướu (01/2022 – 05/2023)

Tổng số báo cáo ADR thu thập được liên quan đến hóa trị liệu tại Trung tâm Ung bướu trong 17 tháng là 48 báo cáo (tương ứng 90 lượt thuốc nghi ngờ, 56 biểu hiện ADR và 111 cặp thuốc – ADR được phân tích).

Dữ liệu báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu (01/2022 - 05/2023):
- Giai đoạn hồi cứu (10/2022 - 03/2023): 17 báo cáo (dữ liệu bắt đầu phát sinh từ tháng 10/2022; tháng 03/2023 không có báo cáo nào).
- Giai đoạn tiến cứu chủ động (04/2023 - 05/2023): 31 báo cáo mới (23 báo cáo trong tháng 4 và 8 báo cáo đầu tháng 5).
Đặc điểm phân tích ADR hóa trị Giá trị thống kê / Tỷ lệ ghi nhận
Tỷ lệ đóng góp cho toàn BV Năm 2022: chiếm 40,00% (14/35 báo cáo). Giai đoạn 01–05/2023: chiếm 75,56% (34/45 báo cáo).
Số lượng ADR nghiêm trọng 7 ca (chiếm 14,58% tổng số 48 báo cáo). Năm 2022 có 3 ca (21,43%); năm 2023 có 4 ca (11,76%). Tất cả đều ở mức độ 3 (nôn, tiêu chảy, hạ bạch cầu, hạ tiểu cầu, dị ứng).
Thời gian trì hoãn gửi báo cáo Trung bình 6,86 ngày (năm 2022) và 8,41 ngày (năm 2023). 100% báo cáo gửi đúng hạn quy định.
Cán bộ tham gia báo cáo 100% do duy nhất 01 Dược sĩ lâm sàng thực hiện.
Đường dùng thuốc nghi ngờ (N=90) Tiêm, truyền tĩnh mạch: 93,33% (84 lượt); Đường uống: 6,67% (6 lượt).
Chất lượng báo cáo (VigiGrade) Điểm TB năm 2022: 0,96 (1 ca 0,5 điểm do lỗi mốc thời gian); Năm 2023: 0,99 (1 ca 0,7 điểm do mâu thuẫn diễn biến).

Chi tiết các thuốc hóa trị nghi ngờ gây ADR (N = 90 lượt):

  • Gemcitabin: 12 lượt (13,33%)
  • Cisplatin: 10 lượt (11,11%)
  • Carboplatin: 8 lượt (8,89%)
  • Cyclophosphamide: 7 lượt (7,78%)
  • Oxaliplatin: 7 lượt (7,78%)
  • Paclitaxel: 7 lượt (7,78%)
  • Rituximab: 7 lượt (7,78%)
  • Capecitabin: 5 lượt (5,56%)
  • Vincristin: 5 lượt (5,56%)
  • Fluorouracil: 4 lượt (4,44%)
  • Pemetrexed: 4 lượt (4,44%)
  • Doxorubicin: 3 lượt (3,33%)
  • Trastuzumab: 3 lượt (3,33%)
  • Etoposide: 2 lượt (2,22%)
  • Irinotecan: 2 lượt (2,22%)
  • Bevacizumab, Docetaxel, Temozolomide, Vinorelbin: mỗi thuốc 1 lượt (1,11%). Đáng chú ý: Nhóm hợp chất Platin (Cisplatin, Oxaliplatin, Carboplatin) xuất hiện tổng cộng 25 lần, chiếm 27,78% tổng số thuốc nghi ngờ.

Cơ cấu biểu hiện lâm sàng của ADR (N = 56 biểu hiện):

  • Biểu hiện tiêu hóa (chiếm 39,28%): Buồn nôn 19,64% (11 lượt), Nôn 7,14% (4 lượt), Táo bón 7,14% (4 lượt), Tiêu chảy 3,57% (2 lượt), Chướng bụng đầy hơi 1,79% (1 lượt), Kém ăn 1,79% (1 lượt).
  • Biểu hiện huyết học (chiếm 25,01%): Hạ bạch cầu 14,29% (8 lượt), Hạ hemoglobin 5,36% (3 lượt), Hạ tiểu cầu 5,36% (3 lượt).
  • Biểu hiện khác: Nấc 8,93% (5 lượt), Mất ngủ 7,14% (4 lượt), Dị ứng 5,36% (3 lượt - trong đó có 2 ca do Oxaliplatin), Tê bì tay chân 5,36% (3 lượt), Rụng tóc 3,57% (2 lượt), Thoát mạch 1,79% (1 lượt).

Kết quả đánh giá 111 cặp thuốc – ADR:

  • Mối liên quan nhân quả (Naranjo): 54 cặp ở mức "Có khả năng" (48,65%) và 57 cặp ở mức "Có thể" (51,35%). Không ghi nhận cặp thuốc – ADR nào ở mức "Chắc chắn", "Không chắc chắn" hoặc "Chưa/Không thể phân loại".
  • Mức độ nặng: Mức độ 1–2 (nhẹ và trung bình) có 42 cặp (37,84%); Mức độ 3 (nặng) có 19 cặp (17,12%); không có trường hợp độ 4–5 (đe dọa tính mạng/tử vong). Có 27 cặp (24,32%) không đủ thông tin để phân loại và 23 cặp (20,72%) không phân loại được do thiếu thang đối chiếu.
  • ADR hiếm gặp: Không ghi nhận phản ứng hiếm gặp (<1/1000 theo Dược thư Quốc gia Việt Nam).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ số liệu thực chứng

  1. Số lượng báo cáo phụ thuộc lớn vào phương thức giám sát: Báo cáo tự phát thường quy mang tính thụ động, số lượng ít (toàn viện 47 báo cáo trong 15 tháng, Trung tâm Ung bướu chỉ có 17 báo cáo trong 6 tháng đầu). Khi triển khai giám sát tiến cứu chủ động có sự tham gia của dược sĩ lâm sàng tại hiện trường, số lượng báo cáo tăng vọt thêm 31 ca chỉ trong hơn 1 tháng.
  2. Chất lượng báo cáo đạt chuẩn kỹ thuật cao: Điểm hoàn thành báo cáo trung bình theo thang VigiGrade của Bệnh viện E đạt từ 0,95 đến 1,00; Trung tâm Ung bướu đạt từ 0,96 đến 0,99. Hầu hết các trường thông tin cơ bản, diễn biến và thuốc dùng kèm đều được thu thập đầy đủ, nhất quán.
  3. Tuân thủ thời hạn gửi báo cáo: Thời gian trì hoãn trung bình toàn viện từ 5,25 đến 5,69 ngày; Trung tâm Ung bướu từ 6,86 đến 8,41 ngày. 100% báo cáo định kỳ và báo cáo nghiêm trọng (trừ 1 ca ngoại lệ hồi cứu) đều đáp ứng đúng khung thời gian của Quyết định 29/QĐ-BYT.
  4. Nhận diện các thuốc và biến cố trọng điểm: Thuốc chống ung thư (đặc biệt là nhóm hợp chất Platin chiếm 27,78% và Gemcitabin chiếm 13,33%) dùng đường truyền tĩnh mạch (93,33%) là căn nguyên hàng đầu gây ADR, tập trung chủ yếu vào độc tính đường tiêu hóa (39,28%) và ức chế tủy xương hạ dòng tế bào máu (25,01%).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Thúc đẩy phối hợp đa ngành: Bệnh viện cần xây dựng cơ chế khuyến khích, phân định rõ trách nhiệm và tổ chức tập huấn định kỳ kỹ năng phát hiện, điền mẫu báo cáo ADR cho Bác sĩ và Điều dưỡng – những người trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân 24/7.
  • Nâng cao chất lượng ghi chép hồ sơ bệnh án: Khắc phục triệt để tình trạng thiếu thông tin mô tả chi tiết ADR (nguyên nhân khiến 24,32% cặp thuốc – ADR không thể phân loại mức độ nặng).
  • Mở rộng giám sát tích cực: Duy trì mô hình dược sĩ lâm sàng đi buồng, rà soát chủ động bệnh án và danh mục thuốc có nguy cơ cao tại các khoa điều trị trọng điểm thay vì chỉ dựa vào báo cáo tự phát thụ động.

Đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên và toàn diện về hoạt động Cảnh giác Dược tại Bệnh viện E và Trung tâm Ung bướu trong giai đoạn 2022–2023. Nghiên cứu chứng minh rõ nét hiệu quả vượt trội của phương pháp giám sát chủ động (active surveillance) so với báo cáo tự nguyện thụ động (spontaneous reporting) trong việc phát hiện độc tính hóa trị, đồng thời cung cấp bức tranh dịch tễ học lâm sàng về các ADR của thuốc chống ung thư tại bệnh viện.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi và thời gian: Nghiên cứu tiến cứu chủ động chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn (tháng 04/2023 đến đầu tháng 05/2023) với quy mô nhân lực hạn chế (01 dược sĩ lâm sàng và 01 sinh viên), chưa bao quát được toàn bộ các chu kỳ điều trị kéo dài của bệnh nhân ngoại trú.
  • Hạn chế về nguồn dữ liệu hồi cứu: Hoạt động báo cáo tự phát tại Trung tâm Ung bướu chỉ mới phát sinh dữ liệu từ tháng 10/2022; hồ sơ bệnh án hồi cứu còn thiếu hụt một số chỉ số mô tả chi tiết khiến tỷ lệ cặp thuốc – ADR chưa phân loại được mức độ nặng còn cao (45,04%).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng mô hình giám sát tích cực trên cỡ mẫu lớn hơn tại toàn bộ các khoa lâm sàng trong bệnh viện; ứng dụng công nghệ thông tin/bệnh án điện tử để thiết lập hệ thống cảnh báo và phát hiện tín hiệu ADR tự động; thực hiện các nghiên cứu can thiệp đánh giá hiệu quả của các biện pháp dự phòng biến cố bất lợi do hóa trị.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên ngành Dược (Dược lâm sàng, Quản lý Dược): Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu Cảnh giác Dược, cách áp dụng các công cụ chuẩn hóa quốc tế như thang Naranjo, thang VigiGrade (WHO-UMC), bảng phân loại ATC và ICD-10 trong xử lý dữ liệu an toàn thuốc.
  • Đối với Hội đồng Thuốc và điều trị, Khoa Dược các bệnh viện: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy trình giám sát ADR nội viện, phân công vai trò đa ngành giữa Bác sĩ – Điều dưỡng – Dược sĩ lâm sàng và giải pháp chuyển đổi từ giám sát thụ động sang giám sát chủ động.
  • Đối với nhân viên y tế chuyên ngành Ung bướu: Cung cấp danh mục cảnh báo thực tế về các thuốc hóa trị có tần suất gây ADR cao (Gemcitabin, Cisplatin, Carboplatin, Oxaliplatin) và các biến cố tiêu hóa, huyết học thường gặp để chủ động dùng thuốc dự phòng (chống nôn, kích bạch cầu, chống dị ứng).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ thuốc điều trị ung thư chiếm bao nhiêu trong tổng số báo cáo ADR tại Bệnh viện E giai đoạn 2022–2023?

Nhóm thuốc chống ung thư chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhóm dược lý nghi ngờ gây ADR tại Bệnh viện E, với 51,52% (34/66 lượt thuốc theo mã ATC). Trong đó, lý do sử dụng thuốc cho nhóm bệnh U tân sinh (C00–D48 theo ICD-10) chiếm 38,30% tổng số báo cáo của toàn bệnh viện.

2. Hai thuốc hóa trị nào bị nghi ngờ gây ra ADR nhiều nhất tại Trung tâm Ung bướu?

Gemcitabin và Cisplatin là 2 thuốc hóa trị bị ghi nhận nghi ngờ gây ADR nhiều nhất tại Trung tâm Ung bướu với tỷ lệ lần lượt là 13,33% (12 lượt) và 11,11% (10 lượt) trên tổng số 90 lượt thuốc nghi ngờ. Nếu tính theo nhóm, các hợp chất Platin (Cisplatin, Carboplatin, Oxaliplatin) chiếm tới 27,78% (25 lượt).

3. Kết quả đánh giá mối liên quan nhân quả giữa thuốc và ADR bằng thang điểm Naranjo đạt mức độ nào?

Trong tổng số 111 cặp thuốc – ADR được đánh giá bằng thuật toán Naranjo tại Trung tâm Ung bướu, 100% các cặp đều nằm ở hai mức: "Có khả năng" (Probable, 5–8 điểm) chiếm 48,65% (54 cặp) và "Có thể" (Possible, 1–4 điểm) chiếm 51,35% (57 cặp). Không có trường hợp nào đạt mức "Chắc chắn" do không thực hiện việc tái sử dụng thuốc (re-challenge).

4. Bác sĩ và Điều dưỡng tại Bệnh viện E tham gia vào hoạt động gửi báo cáo ADR như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?

Trong giai đoạn 01/2022 – 03/2023, 100% số người trực tiếp viết và gửi báo cáo ADR về Trung tâm DI & ADR Quốc gia tại Bệnh viện E đều là Dược sĩ (3 người), tại Trung tâm Ung bướu chỉ có duy nhất 1 Dược sĩ lâm sàng đứng tên gửi báo cáo. Mặc dù quy trình giám sát nội viện có phân công nhiệm vụ phát hiện cho Điều dưỡng và đánh giá cho Bác sĩ, hai nhóm nhân sự này vẫn chưa trực tiếp tham gia hoàn thiện và gửi báo cáo độc lập.

5. Việc triển khai theo dõi chủ động trong giai đoạn tiến cứu đã làm thay đổi số lượng báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu ra sao?

Hoạt động theo dõi chủ động do nhóm nghiên cứu thực hiện tại Trung tâm Ung bướu trong tháng 04/2023 và đầu tháng 05/2023 đã phát hiện và hoàn thành thêm 31 báo cáo ADR mới (trong đó có 2 ca nghiêm trọng độ 3). Số lượng này cao gần gấp đôi tổng số 17 báo cáo thu thập được trong suốt 6 tháng hồi cứu trước đó, nâng tỷ lệ đóng góp của Trung tâm Ung bướu lên 75,56% tổng số báo cáo toàn viện trong 5 tháng đầu năm 2023.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ánh đã phản ánh chi tiết thực trạng hoạt động Cảnh giác Dược tại Bệnh viện E và Trung tâm Ung bướu giai đoạn 2022–2023, khẳng định các báo cáo ADR gửi đi đều đạt chất lượng hoàn thành rất cao theo chuẩn VigiGrade (từ 0,95 đến 1,00 điểm) và tuân thủ chặt chẽ thời hạn quy định. Tuy nhiên, công tác giám sát tại bệnh viện vẫn còn mang tính chất thụ động, phạm vi khoa phòng tham gia còn hẹp (19,44%) và nhân sự báo cáo phụ thuộc hoàn toàn vào dược sĩ lâm sàng. Kết quả triển khai giám sát tiến cứu đã chứng minh tính ưu việt của mô hình phát hiện chủ động, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tăng cường phối hợp đa ngành giữa bác sĩ, điều dưỡng và dược sĩ nhằm tối ưu hóa an toàn sử dụng thuốc hóa trị cho người bệnh ung thư.