phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LÀNG NGHỀ Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chƣơng 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ BÁNH CHƢNG BỜ ĐẬU Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 5 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LÀNG NGHỀ 1. Cơ sở khoa học về làng nghề 1. về làng nghề Có rất nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề: Theo giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng thì: Làng nghề (nhƣ làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hƣơng Canh… làng giấy vùng Bƣởi, Dƣơng Ô… làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội…) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán, có phƣờng, có ông trùm, ông phó cả … cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đac có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng hoá và có quan hệ tiếp thị với một thị trƣờng là vùng xung quanh và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có thể xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu “ dân biết mặt, nƣớc biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử vào ca dao tục ngữ” trở thành văn hoá dân gian [17].
Theo tác giả Bùi Văn Vƣợng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền thủ công, ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Ngƣời thợ thủ công nhiều trƣờng hợp cũng đồng thời là ngƣời làm nghề nông nhƣng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những ngƣời thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê mình…” [19]. Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam [18]. Vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 7 gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hoá” [10].
Theo quy định tạm thời của Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn (cơ quan trực thuộc Bộ nông nghiệp giao nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực này) thì: làng nghề là làng (thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của ngƣời dân trong làng. Về mặt định lƣợng, làng nghề là làng có từ 35- 40% số hộ trở lên tham gia hoạt động ngành nghề và có thể sống bằng chính nguồn thu nhập từ ngành nghề (nghĩa là thu nhập từ ngành nghề chiếm trên 50% thu nhập của các hộ) và giá trị sản lƣợng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lƣợng của địa phƣơng. Vì vậy, khái niệm làng nghề cần đƣợc hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ƣu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông. Khái niệm về phát triển bền vững Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển.
Raaman Weit cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trƣởng mức sống con ngƣời và phân phối công bằng những thành quả tăng trƣởng trong xã hội” (6, tr5). Ngân hàng thế giới đƣa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con ngƣời, đó là: “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niểm tin trong cuộc sống của con ngƣời trong các mối quan hệ với nhà nƣớc, với cộng đồng…” (6, tr5), Lƣu Đức Hải (2). Phát triển là một quá trình tăng trƣởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau nhƣ kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hoá vv… Bùi Ngọc Quyết (18). Có khái niệm: Phát triển (developement) hay nói một cách đầy đủ hơn là phát triển kinh tế xã hội (socio-economic devenopement) của con ngƣời là Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 8 một quá trình nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triển sản xuất, tăng cƣờng chất lƣợng các hoạt động văn hoá.
Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhƣng tựu trung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con ngƣời. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền tự do công dân của mọi ngƣời dân (9), (4, tr. Khái niệm về phát triển bền vững: - Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngƣỡng sống của họ. - Phát triển bền vững đƣợc miêu tả nhƣ một sự biến đổi sâu sắc, trong đó việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, việc chọn cơ cấu đầu tƣ, chọn các loại hình tiến bộ kỹ thuật để áp dụng và chọn cơ cấu hành chính phù hợp với nhu cầu hiện tại và tƣơng lai.
- Uỷ ban môi trƣờng và phát triển thế giới đƣa ra năm 1987 nhƣ sau: “Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không phƣơng hại đến khả năng của các thế hệ tƣơng lai đáp ứng nhu cầu của họ” (2, tr 23). Phát triển bền vững lồng ghép các quá trình hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội với việc bảo tồn tài nguyên và làm giàu môi trƣờng sinh thái. Nó đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại nhƣng không làm ảnh hƣởng bất lợi cho các thế hệ mai sau (20), (7), (12), (13). Theo tôi khái niệm về phát triển bền vững của Uỷ ban môi trƣờng Thế giới là đầy đủ.
Với bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải đặc biệt chú ý đến tính bền vững, có nhƣ vậy thì phát triển mới lâu dài và ổn định đƣợc. Nội dung của phát triển bền vững - Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ƣu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhƣng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tƣơng tự trong tƣơng lai. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 9 - Phát triển bền vững là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời thế hệ hôm nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau. - Phát triển bền vững là mục tiêu tăng trƣởng kinh tế làm giảm sự khai thác tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái môi trƣờng trong tƣơng lai và làm giảm sự đói nghèo.
- Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế xã hội. Khái niệm về Bánh chưng - Bánh chƣng là loại bánh đƣợc gói bằng lá dong và làm từ các loại nguyên liệu chính sau: Gạo nếp; Đỗ xanh; Thịt lợn. Bánh chƣng có 02 loại: Bánh chƣng vuông (vuông to, vuông vừa và vuông nhỏ); Bánh chƣng dài. Bánh chƣng sau khi gói đƣợc cho vào nồi luộc từ 7 đến 8 tiếng.
Việc làm bánh chƣng rất tỉ mỉ và khéo léo từ khâu chuẩn bị nguyên liệu cho đến khâu gói bánh, luộc bánh. Nguyên liệu sử dụng trong làng nghề bánh chưng TT Nguyên liệu Yêu cầu Gạo nếp có hạt đều, mẩy ngon nhất là loại nếp 1 Gạo nếp cái hoa vàng, vừa thơm vừa dẻo hoặc là loại gạo nếp nƣơng Chọn loại đỗ xanh đều hạt, vỏ mỏng, lòng vàng để 2 Đỗ xanh tạo độ thơm ngon cho bánh Chọn loại thịt 3 chỉ hoặc thịt vai sấn thì mới ngon; 3 Thịt lợn không nên chọn loại thịt quá nạc Chọn loại lá nếp, dày, xanh mƣớt, bản rộng, 4 Lá dong không dùng lá quá non hay quá già Lạt gói bánh chƣng là loại lạt giang, mỏng, mềm 5 Lạt gói và dẻo dai Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 10 Nguyên liệu làm bánh chƣng Các thao tác gói bánh chƣng Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 11 Các thao tác gói bánh chƣng Bánh đã gói xong chuẩn bị luộc Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 12 Bánh luộc xong đang đƣợc ép Quy trình gói bánh chƣng: - Rải lạt xuống bàn tạo hình chữ thập. - Đặt 2 chiếc lá dong lên trên lạt, nằm chồng 1/2 theo chiều dài lá lên nhau, chú ý phải quay mặt trên của 2 lá ra phía ngoài và mặt kém xanh hơn (mặt dƣới) vào trong. Lƣợt sau: 2 lá rải nhƣ lƣợt đầu nhƣng vuông góc với lƣợt đầu, chú ý là lần này lại phải làm ngƣợc lại, quay mặt trên lá (xanh hơn) lên trên, mặt kém xanh hơn, úp xuống dƣới.
- Xúc gạo nếp đổ vào tâm của hình chữ thập, dùng tay gạt đều, tạo hình vuông (kích thước tuỳ từng loại bánh). - Lấy đỗ xanh bóp nhẹ và rải đều vào giữa vuông gạo đến gần hết bìa gạo. - Lấy 1 đến 2 miếng Thịt lợn tùy cỡ đã thái rải đều vào giữa bánh. - Lấy tiếp đỗ xanh nữa bóp nhẹ rải đều phủ lên trên thịt.
- Đổ gạo nếp lên trên và phủ khỏa đều, che kín hết thịt và đỗ. - Gấp đồng thời 2 lá dong lớp trên vào, vừa gấp vừa vỗ nhẹ để tạo hình khối vuông. - Gấp tiếp đồng thời 2 lá dong lớp dƣới vào nhƣ lớp trên, vừa gấp vừa lèn chặt nhẹ tay. - Dùng lạt buộc xoắn lại tạo thành hình chữ thập.
Để gói đƣợc những chiếc bánh chƣng ngon. Trƣớc hết, gạo nếp đƣợc vo sạch, sau đó để ráo nƣớc rồi mới đem gói bánh, tuyệt đối không đƣợc ngâm gạo nếp trong nƣớc để bánh không bị nhão khi chín, giữ đƣợc mùi thơm của gạo. Còn đỗ xanh phải đƣợc đãi sạch và đồ chín trƣớc khi gói bánh.