CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ XBP QUA MẠNG INTERNET 1.1 Một số khái niệm 1.1 Mạng máy tính Mạng máy tính bao gồm từ hai máy tính trở lên được kết nối với nhau. Có thể trao đổi dữ liệu với nhau bằng đường truyền vật lý (đường truyền hữu tuyến hoặc vô tuyến). Như vậy một mạng máy tính đơn giản nhất chỉ gồm hai máy tính trao đổi dữ liệu với nhau bằng cáp truyền dữ liệu ( đường truyền hữu tuyến) hoặc bằng tia hồng ngoại ( đường truyền vô tuyến). Một mạng máy tính phức tạp bao gồm hàng ngàn máy tính nối với nhau thông qua đường truyền dữ liệu tốc độ cao.
Ví dụ như đường truyền dữ liệu cáp quang. Một mạng máy tính cho dù đơn giản hay phức tạp để hoạt động được cần có hai thành phần cơ bản đó là phần cứng và phần mềm. Phần cứng mạng máy tính bao gồm: máy tính, card mạng, dây cáp, hub (ổ trung tâm), switch (ổ ngắt điện)… tùy theo cấu trúc mạng mà chúng ta chọn phần cứng cho thích hợp. Máy tính Hub Thẻ mạng Card mạng Swicth Hình 1: Các thiết bị phần cứng để nối mạng máy tính Luận văn tốt nghiệp Trịnh Thị Phương 11 Phần mềm.
Phần mềm mạng máy tính bao gồm các chương trình được cài đặt trên máy tính để chúng ta có thể nhận ra nhau và truyền dữ liệu với nhau. Phần mềm mạng máy tính phải được thiết kế phù hợp với các yêu cầu được đặt ra bởi phần cứng và mục đích sử dụng. Phần mềm mạng được xây dựng bởi ba khái niệm cơ bản đó là: giao thức ( protocol), dịch vụ ( service) và giao diện (interface). Mạng máy tính có thể phân bố trên vùng lãnh thổ, quốc gia hay quốc tế.
Mạng LAN được gọi là mạng cục bộ kết nối các máy tính của một cơ quan, tổ chức trong một phạm vi nhỏ, bán kính vài trăm mét. Kiến trúc mạng thường được chọn lựa trong mạng LAN là kiến trúc hình sao, các máy tính kết nối với thiết bị trung tâm bằng dây cáp xoắn. Mạng WAN được gọi là mạng diện rộng kết nối các máy tính trong phạm vi quốc gia của một châu lục hay giữa các châu lục với nhau. Các LAN kết nối với nhau thành WAN.
Kết nối các máy tính từ các châu lục khác nhau, thông thường kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông và vệ tinh. Nối kết các máy tính trong phạm vi một thành phố. Kết nối này được thực hiện thông qua môi trường truyền thông tốc đọ cao ( 50 – 100 Mbit/s). Với tất cả những đặc điểm trên thì việc xây dựng một mạng máy tính mang đến một số lợi ích cơ bản như: Chia sẻ tài nguyên.
Luận văn tốt nghiệp Trịnh Thị Phương 12 Khi các máy tính được kết nối với nhau thành một mạng thì người ta dùng (user) có thể sử dụng chung tài nguyên qua mạng như máy in, thiết bị lưu trữ, chương trình ứng dụng …nhằm giảm chi phí trong việc mua sắm các thiết bị và tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, bảo trì, khắc phục sự cố nếu có hư hỏng. Tăng tính hiệu quả, an toàn, tin cậy khi khai thác dữ liệu. Khi sử dụng mạng người sử dụng có thể thực hiện một chương trình tại nhiều máy tính khác nhau, nhiều thiết bị có thể dùng chung. Điều này làm tăng độ tin cậy trong công việc vì nếu có máy tính hoặc thiết bị nào đó bị hỏng, công việc vẫn có thể tiếp tục với các máy tính hoặc các thiết bị khác trên mạng trong khi chờ sửa chữa thiết bị đã hỏng đó.2 Mạng Internet Hình 2: Liên mạng máy tính toàn cầu – internet Internet được gọi là mạng máy tính toàn cầu.
Về phần cứng thì bao gốm các mạng LAN, WAN của cả thế giới được kết nối với nhau. Về phần Luận văn tốt nghiệp Trịnh Thị Phương 13 mềm cần phải có để các máy tính có thể nhận ra nhau bằng cách sử dụng một giao thức chung và giao thức đó là TCP/IP. Giao thức TCP/IP được xem như là ngôn ngữ chung cho tất cả các máy tính kết nối với Internet. Giao thức TCP/IP Giao thức là tập hợp những quy tắc hay công thức dùng để điều khiển những thông tin được truyền đi giữa các máy tính hay chương trình trên mạng.
Internet bao gồm nhiều hệ mạng dùng nhiều giao thức khác nhau. Muốn liên lạc với nhu cần phải có một giao thức hay một ngôn ngữ chung và ngôn ngữ đó chính là giao thức TCP/IP Giao thức TCP/IP được chuyển cho việc truyền thông trên Internet và nó được phát triển từ mạng ARPANET vài Internet. Thực hiện nhiệm cụ điều khiển và truyền tin, đảm bảo liên lạc thông suốt và tính đúng đắn của dữ liệu giữa hai đầu kết nối. IP ( Internet Protocol): Là giao thức ứng với tầm mạng của mô hình OSI có nhiệm vụ là dịch địa chỉ ( Addressing), chọn đường (routing), và vận chuyển các data groun ( gói tin) qua mạng.
Địa chỉ IP. Khi tham gia vào Internet các máy tính được gọi là các host và các địa chỉ IP dùng để nhận dạng được gọi là địa chỉ host (host address) hay địa chỉ máy. - Địa chỉ IP: là một địa chỉ bao gồm 4 số octect, mỗi octect có 8 bit tương đương bởi dấu chấm (. như vậy địa chỉ IP có độ dài 32bit ( 4 byte) và mỗi byte người ta thường viết dưới dạng thập phân với giá trị tương ứng từ 0 – 255 Một địa chỉ IP bao gồm 2 phần: Luận văn tốt nghiệp Trịnh Thị Phương 14 + Địa chỉ Host ( host address): Host ID + Địa chỉ mạng (network address): Net ID.
Class bit: bit nhận dạng là những bit đầu tiên của địa chỉ IP mà các octect viết dưới dạng nhị phân - Phân lớp địa chỉ IP: người ta phân địa chỉ IP thành 5 lớp: A, B, C, D, E Dựa vào class bit người ta có thể xác định được lớp của một địa chỉ IP như sau: + Lớp A: 0 + Lớp B: 10 + Lớp C: 110 + Lớp D: 1110 + Lớp E: 1111 … Luận văn tốt nghiệp Trịnh Thị Phương 15 Thông tin chi tiết về các lớp được mô tả như sau: Số Host trên cùng Lớp Byte đầu NetID HostID Số mạng một mạng A 1→126 1Byte 3 Byte 3 Byte 16.152 254 (28 – 2) Nhận xét: - Lớp A: có số mạng ít nhất nhưng lại có số host nhiếu nhất thích hợp cho tổ chức lớn có nhiều máy tính. - Lớp B: có số mạng và số host vừa phải được sử dụng cho các tổ chức có kích thước trung bình. - Lớp C: có nhiều mạng nhưng chỉ có 254 host thích hợp với tổ chức có kích thước nhỏ, ít má tính. Ví dụ: Địa chỉ IP: 192.131 có byte đầu tiên là 192 trong khoảng 192 – 223 nếu thuộc lớp C; địa chỉ mạng 192.0 và địa chỉ host là 131.
Việc cấp điạ chỉ IP: Cho các máy tính trên internet phải được cung cấp và quản lý thống nhất muốn nối kết vào internet. Cơ quan địa chỉ IP và NIC ( Network Information Center). Tại Châu Á – Thái Bình Dương là APNIC ( Luận văn tốt nghiệp Trịnh Thị Phương 16 Asean Pacific Network Information Center) và tại Việt Nam là VNNIC (Việt Nam Network Information Center). Sơ lược lịch sử của Internet.
Năm 1969, mạng ARPANET của Bộ Quốc phòng Mỹ được thành lập ( ARPANET là viết tắt củ từ Advenced Reseach Project Agency Network – Cơ quan các dự án nghiên cứu cao cấp, Net là mạng) với mục tiêu là : - Là một máy tính có khả năng chịu dựng các sự cố ( ví dụ một số nút mạng bị tấn công và phá hủy nhưng mạng vẫn tiếp tục hoạt động). - Mạng cho phép một máy tính bất kỳ trên mạng liên lạc với mọi máy tính. Tiền thân của mạng máy tính ngày nay chính là mạng ARPANET, mạng ARPANET lần đầu tiên ra đời kết nối được 4 địa điểm : Trường Đại học California ở Log Angeles ; Trung tâm nghiên cứu phát triển ở Santa Barbara, Trường đại học Tổng hợp Utah. Thuật ngữ internet xuất hiện đầu tiên vào năm 1974, lúc đó vẫn được gọi là ARPANET.
Giao thức TCP/IP ra đời vào năm 1974 bởi 2 kỹ sư mạng tiên phong là Kahn và Cerf. Dâ là kỹ thuật cho phép các máy tính của hãng sản xuất khác nhau có thể kết nối được với nhau một cách đẽ dàng. điều này dẫn đến các công ty phát triển phần mềm ở Anh, Mỹ, Châu Âu bắt dầu phát triển phần mềm trên bộ giao thức này. Năm 1980, Tổ chức Khoa học Quốc Gia Mỹ NSF( National Science Foundation) thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET.
Trước kia các máy tính nhanh nhất thế giới thường được sư dụng cho công việc phát triển vũ khí mới cho các công ty lớn này. NSF cho phép tất cả mọi hoạt động trong lĩnh vực khoa học sử dụng Luận văn tốt nghiệp Trịnh Thị Phương 17 Năm 1984, ARPANET được chia ra làm hai phần : phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET dành cho việc nghiên cứu và phát triển ; phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mục đích quân sự. Cuối năm 1987, khi lượng thông tin truyền tải làm cho các máy tính kiểm soát đường truyền đã đước kí kết giữa NSFNET và Mcerit Network Enc. Mạng đã được nâng cấp với tốc độ đường truyền gấp 20 lần trước kia, các máy tính kiểm soát mạng cũng được nâng cấp.
Do đó nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET. Sau gần 20 năm hoạt động ARPANET không còn hiệu quả nữa và đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990. Năm 1990, tại trung tâm nghiên cứu nguyên tử Châu Âu CERN, Tim Berness Lee phaie triển khai thành công dịch vụ World Wide Web (www). Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khách đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet.
Tới 1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu, còn internet thì vẫn tiếp tục phát triển. Ngày 19/11/1997 là ngày đầu tiên đánh dấu sự hoạt động của Internet tại Việt nam. Đến nay, cả nước có 4,3 triệu thuê bao Internet quy đổi, đáp ứng nhu cầu của 15,5 triệu dân, đạt mật độ 18,64 người/100 dân, cao hơn bình quân khu vực ASEAN và thế giới; vượt xa Thái Lan (15,65%), Trung Quốc (9,41%), Philippinnes (9,12%),. Nguyên Bộ trưởng Bộ Bưu chính viễn thông Đỗ Trung Tá đã phát biểu tại Lễ kỷ niệm 10 năm Internet Việt Nam rằng “đến năm 2020, mức độ sử dụng Internet của Việt Nam sẽ đạt trình độ của các nước phát triển”.