ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, sự phát triển các phương tiện giao thông, các nhà máy, xây dựng các công trình đã làm gia tăng các chất gây ô nhiễm môi trường không khí như bụi, CO, SO2, NO2. Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị không còn là vấn đề riêng lẽ của một quốc gia hay một khu vực mà nó trở thành vấn đề toàn cầu. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường và đã làm cho môi trường sống của con người bị thay đổi và ngày càng trở nên xấu hơn ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu. Ô nhiễm không khí không chỉ gây ra những nguy cơ tác động nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt là gây ra các bệnh liên quan đến đường hô hấp, mà còn ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và gia tăng tác động biến đổi khí hậu.
Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với đô thị, công nghiệp và làng nghề. Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng môi trường không khí theo chiều hướng xấu càng lớn. Các khu công nghiệp, các trục đường giao thông lớn đều bị ô nhiễm với các cấp độ khác nhau, nồng độ các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Sự gia tăng dân số, gia tăng đột biến của các phương tiện giao thông trong khi cơ sở hạ tầng còn thấp làm cho tình hình ô nhiễm trở nên trầm trọng.
Cho đến nay, ở nước ta mặc dù công nghệ viễn thám và GIS (Geographic Information System) được ứng dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường, song rất ít các nghiên cứu ứng dụng viễn thám và GIS để theo dõi, giám sát và đánh giá chất lượng không khí, đặc biệt ô nhiễm do bụi. Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ mới tập trung tại các đô thị và thành phố lớn và mang tính tản mạn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh 2 và Đà Nẵng, trong khi các nghiên cứu đánh giá về chất lượng không khí tại các khu vực khác ở Việt Nam còn rất hạn chế. Các nghiên cứu về chất lượng không khí chỉ mới tập trung vào phân tích thống kê từ số liệu quan trắc mặt đất và độ chính xác của phương pháp này phụ thuộc rất lớn vào số lượng và vị trí các trạm quan trắc (Trần Thị Vân và cộng sự, 2012), trong khi số trạm quan trắc môi trường không khí ở nước ta hiện nay còn khá ít, gây nên sự thiếu định lượng về mặt không gian, thiếu tính khách quan khi đưa ra các nhận định, đánh giá về chất lượng không khí (Nguyễn Hải Hòa và cộng sự, 2017a). Việc ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong đánh giá chất lượng môi trường không khí đã được thực hiện ở nhiều khu vực với quy mô khác nhau, đã thu được một số kết quả nhất định như: Xây dựng bản đồ chất lượng không khí từ ảnh Landsat khu khai thác than tại Quảng Ninh (Nguyễn Hải Hoà và cộng sự, 2017a); sử dụng tư liệu viễn thám mô phỏng phân bố bụi PM10 khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh (Trần Thị Vân và cộng sự, 2014); ứng dụng GIS và viễn thám trong xây dựng bản đồ chất lượng không khí khu vực khai thác khoáng sản tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (Trần Quang Bảo và cộng sự, 2018); nghiên cứu sử dụng kênh hồng ngoại nhiệt để ước tính giá trị nhiệt độ bề mặt (Lê Vân Anh và Trần Tuấn Anh, 2014; Trần Thị Ân và cộng sự, 2011).
Các nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng tư liệu viễn thám trong theo dõi, giám sát và đánh giá chất lượng không khí có độ tin cậy và khả thi cao trong điều kiện hạn chế về số lượng trạm quan trắc môi trường. Kết quả nghiên cứu nghiên cứu cho thấy có thể ứng dụng tư liệu viễn thám trong giám sát và đánh giá môi trường không khí tại Việt Nam. Thành phố Sơn La là một trong những tỉnh thuộc Tây Bắc có tiềm năng về phát triển kinh tế và du lịch. Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý môi trường đã được quan tâm, đặc biệt về chất lượng môi trường nước và 3 không khí.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy môi trường không khí thành phố Sơn La đang chịu tác động lớn bởi các hoạt động như giao thông, xây dựng, hoạt động của các khu công nghiệp, trong khi các điểm quan trắc chất lượng không khí chưa nhiều và phân bố chưa đều, kết quả chỉ mang tính đại diện tại thời điểm nên khó khăn trong việc phân loại chất lượng môi trường không khí, bên cạnh đó chi phí cao. Do vậy, kết quả quan trắc chưa đưa ra bức tranh tổng quan về chất lượng không khí toàn thành phố Sơn La. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để giám sát chất lượng môi trường không khí có hiệu quả và thường xuyên hơn, phát hiện sớm các điểm nóng về môi trường không khí? Mức độ tin cậy của việc sử dụng ảnh viễn thám trong đánh giá chất lượng không khí so với kết quả quan trắc mặt đất có đáp ứng yêu cầu cho phép không? Do vậy, việc nghiên cứu "Sử dụng tư liệu viễn thám để xây dựng bản đồ phân cấp chất lượng không khí tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giai đoạn 2017 - 2019" có ý nghĩa thực tiễn và cấp thiết hơn bao giờ hết. Mục đích của đề tài nghiên cứu là: Đánh giá thực trạng chất lượng không khí tại thành phố Sơn La từ năm 2017 đến năm 2019; xây dựng bản đồ chất lượng không khí thông qua chỉ số API từ ảnh Landsat, đánh giá độ tin cậy của kết quả giá trị API từ ảnh vệ tinh so với số liệu quan trắc; ước tính giá trị nhiệt độ trên diện rộng khu vực thành phố Sơn La từ ảnh Landsat 8, đánh giá độ tin cậy của kết quả ước tính giá trị nhiệt độ từ ảnh vệ tinh so với số liệu quan trắc; đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường không khí trên địa bàn thành phố Sơn La.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để xây dựng mô hình công nghệ địa không gian để theo dõi giám sát chất lượng không khí thành phố Sơn La trong tương lai. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về ô nhiễm không khí Tại Việt Nam, khi công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn hơn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng Hiện nay, các thông số được sử dụng để đánh giá ô nhiễm không khí bao gồm bụi lơ lửng tổng số (TSP), bụi PM10, bụi mịn (PM2,5 và PM1), SO, NO - NO2 - NOx, CO, O3, bụi chì, một số chất độc hại trong không khí và tiếng ồn. Các thông số này được so sánh với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 05:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh.
Thông số độ ồn được so sánh với QCVN 26:2010/BTNMT - Quy chuẩn quốc gia về tiếng ồn. Ô nhiễm môi trường không khí được xác định khi nồng độ các thông số vượt giới hạn cho phép của QCVN với các ngưỡng khác nhau của trung bình 1 giờ, 8 giờ, 24 giờ (ngày) và năm. Đây là cơ sở dùng để đánh giá diễn biến ô nhiễm môi trường không khí theo thời gian. Ngoài ra, bên cạnh phương pháp sử dụng QCVN thì chỉ số chất lượng không khí (AQI),… cũng thường được sử dụng.
Ô nhiễm không khí do bụi Ô nhiễm bụi ở nước ta được phản ánh chủ yếu qua các thông số bụi lơ lửng tổng số TSP, bụi PM10 và bụi mịn (PM2,5 và PM1 ). Đáng lưu ý là các hạt bụi mịn thường mang tính axit, có kích thước siêu nhỏ nên tồn tại rất lâu trong khí quyển và có khả năng phát tán xa, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và các hoạt động phát triển kinh tế xã hội là đáng kể so với các hạt bụi thô (thường trung tính). Bụi là một hệ phân tán, trong đó môi trường phân tán là khí và pha phân tán là các hạt rắn hoặc lỏng có kích thước lớn hơn kích thước đơn phân tử song nhỏ hơn 500µm 5 Dựa theo kích thước, bụi thường được chia thành các loại sau: - Bụi lắng: bụi có đường kính lớn hơn 100 µm. - Bụi lơ lửng (Suspended Paticulates Matter - SPM): bụi có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 100 µm.
Đứng trên phương diện sức khỏe, bụi lơ lửng có đường kính dưới 10 µm bắt đầu có khả năng xâm nhập vào phần trên hệ hô hấp, từ 2,5 µm trở xuống có khả năng đi sâu vào hệ hô hấp. Vì vậy khi nghiên cứu bụi lơ lửng có đường kính dưới 10 µm người ta thường quan tâm đến: - Bụi PM10: bụi có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 10µm. - Bụi PM2,5: bụi có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 2,5 µm. - Bụi nano: bụi có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 0,1 µm.
Bụi có thể phát sinh từ nguồn gốc tự nhiên hoặc từ hoạt động của con người. Nguồn tự nhiên có thể kể đến như: cháy rừng, từ đại dương, bão cát, núi lửa,. Nguồn do con người gồm: giao thông, xây dựng, đốt nhiên liệu, hoạt động sản xuất, sinh hoạt, công nghiệp,. Tác động của bụi đến sức khỏe con người Trong nhiều thập kỷ qua, có rất nhiều bằng chứng chỉ ra các tác động nguy hiểm đến sức khỏe của bụi PM10 và PM2,5.
Tiếp xúc lâu với các hạt này là nguyên nhân của các bệnh về đường hô hấp mãn tính, bệnh tim mạch, giảm chức năng của phổi và nguy cơ tử vong sớm. Các hạt bụi có kích thước lớn thường lắng đọng ở phần trên của hệ hô hấp, còn các hạt bụi siêu mịn có khả năng thâm nhập vào các phần sâu hơn của hệ hô hấp do chúng có khả năng khuếch tán cao. Khả năng lắng đọng của các hạt PM với kích thước khác nhau trong cơ thể người. Do kích thước siêu nhỏ, bụi nano có những đặc tính khác biệt so với các hạt bụi lớn hơn.
Bụi nano có tổng diện tích bề mặt riêng rất lớn, chúng trở nên linh động về mặt sinh học, do đó có thể tham gia nhiều phản ứng hóa học và trở nên rất độc.