Chương 1: GIỚI THIỆU TỎNG QUAN 1. Phân tích quan điểm Thuật ngữ “khai phá quan điểm” (Opinion Mining) được Dave [69 — Opinion Mining and Sentiment Analysis] đề cập vào năm 2003 song nó thường được giải thích gắn liền với việc tìm kiếm trên web hoặc trích xuất thông tin (IR — Information Retrieval). Còn thuật ngữ phan tích quan điểm (Sentiment Analysis) thì gắn liền với việc phân loại văn bản dựa theo mức độ cảm xúc của người dùng (tích cực hay tiêu cực). Đến năm 2006, Bing Liu, tác giả quyền sách nồi tiếng, 2012 [5] về lĩnh vực khai phá quan điểm đã định nghĩa lại một cách rõ ràng hơn về thuật ngữ khai phá quan điêm như sau: Phân tích quan điểm (sentiment analysis) hay còn được gọi là khai phá quan điểm (opinion mining) là một lĩnh vực nghiên cứu về phân tích ý kiến, quan điêm, đánh giá, thái độ và cảm xúc về một lĩnh vực cụ thể (entity) ví dụ như: sản phâm, dịch vụ, vấn dé, sự kiện.
Một quan điểm d bao gồm 5 yếu tổ (e;, aij, Su; Hy, t): d = (6; aij, Sixt, Nx, ty) Trong do: : là tên của thực thể. oO ay: là đặc trưng của e¡ ©_ Sy: là quan điểm về đặc trưng aj của thực thé e, Quan điểm này có thể tích cực, tiêu cực, trung lập hoặc có thể được biểu diễn bởi các mức độ khác nhau o hy: là người đưa ra quan điểm d. © tị thời gian hy, đưa ra quan điểm Định nghĩa của Bing Liu có một số khái niệm về đối tượng, đặc trưng, người giữ quan điểm cần phải được làm rõ như sau: Đối tượng (object) hoặc Thực thé (entity) Là một thực thể như người, sản phẩm, sự kiện, chủ dé, tổ chức, vấn đề. được đánh giá.
Mỗi đối tượng có một tập các thành phần (components) hay thuộc tính (attributes): gọi chung là các đặc trưng (features). Mỗi thành phan hay thuộc tính được biểu diễn bằng một tập phân cấp gồm tập cha - tập con. Đối tượng e có thé được biểu diễn như sau e: (T, W), trong đó 7 là tập phân cấp gồm tập cha — tập con, và W là tập thuộc tính của e. Ví dụ: Điện thoại có một tập các thành phần gồm: camera, màn hình, pin, hệ điều hành.và có thuộc tính: kích thước, khối lượng, màu sắc.
Thành phần camera có thuộc tính con: tiêu cự, khẩu độ, độ phân giải. Đặc trưng hiện và ẩn Với mỗi một đánh giá r bao gồm một tập các câu r = {5}, S2,. Nếu đặc trưng f xuất hiện trong r, ta nói f là đặc trưng hiện (explicit feature). Ngược lại, ta nói, f là đặc trưng ẩn (implicit feature) Ví dụ: “Khả năng hiện thị hình ảnh của iPhone 7 rất tốt”: đặc trưng “khả năng hiện thi hình anh” là đặc trưng hiện “iPhone7 mắc qua”: đặc trưng “giá” là đặc trưng an Đoạn đánh giá Đoạn đánh giá về một đặc trưng f của đối tượng O trong r là một tập các câu liên tiếp trong r diễn tả quan điểm tích cực hay tiêu cực về đặc trưng f.
Đoạn đánh giá bao gồm tối thiểu ít nhất một câu [12]. Da phan các nghiên cứu hiện tại đều tập trung vào phân tích ở mức độ câu, tức là mỗi đoạn sẽ bao gồm một câu và sẽ tiến hành phân tích từng đoạn (hay câu). Trong ngữ cảnh này 2 khái niệm đó được xem xét tương đương nhau. Ví dụ: Bộ nhớ của điện thoại ít.
Hôm qua, tôi mua một chiếc điện thoại Iphone 5S ở siêu thị điện máy Trần Anh. Tôi rất thích nó. Kích thước của nó phù hợp với tay tôi cầm. Giá cả phải chăng mà chat lượng cũng tot.
Hai ví dụ trên, tuy số lượng câu và độ dài là khác nhau nhưng chúng đều là các đoạn đánh giá cho sản phẩm điện thoại. Quan điểm ấn, hiện Quan điểm hiện (explicit opinion) về đặc trưng f của đối tượng O trong tập r là một câu trực tiếp đưa ra biểu lộ về sản phẩm hoặc khía cảnh cụ thé của sản phẩm. Quan điểm ân (implicit opinion) vé một đặc f của đối tượng O trong tập ra là một câu thể hiện một cách gián tiếp (ân dụ) quan điểm tích cực hay tiêu cực của người đưa ra quan điểm. Ví dụ: “Dién thoại này xài rất tốt”: thể hiện quan điểm hiện — khen chất lượng của điện thoại “Dién thoại này mới mua mà đã phải di bảo hành rồi”: thé hiện quan điểm ân — chê chất lượng của điện thoại 1.
Những khó khăn trong phân tích quan điểm Thách thức đầu tiên đến từ bản thân ngôn ngữ. Mỗi quốc gia khác nhau hay thậm chí từng vùng miễn trong quốc gia đó có hệ thống ngôn ngữ khác nhau. Hệ thống đó bao gồm các van dé về chữ viết, ngữ pháp, từ vựng của loại ngôn ngữ đó. Do đó việc xây dựng, tìm hiểu một phương pháp chung, một kho từ điển quan điểm chung là vô cùng khó khăn.
Có thể cách làm này phù hợp với hệ thống ngôn ngữ này song lại không phù hợp với hệ thống ngôn ngữ khác. Thách thức tiếp theo đến từ vấn đề xử lý ngôn ngữ tự nhiên, mỗi người có một cách hành văn khác nhau. Trong thực tế các bình luận hay quan điểm được đưa ra bởi những người khác nhau thì họ sẽ có cách diễn đạt không giống nhau từ cách sử dụng ngôn ngữ, các bình luận được viết theo văn nói và không đúng với cú pháp câu thông thường, chữ viết tắt hay kiến thức đều riêng biệt và có thể không tuân theo những quy tắc hay chuẩn mực nhất định nào. Ngoài ra còn phải đối mặt với các lỗi chính tả, các biểu tượng cảm xúc (emotion) đề thể hiện quan điểm.
Tiếp đó các trang mạng xã hội, mỗi một bình luận còn thường chứa các hashtag, đường link, điều này làm cho các ứng dụng phân tích quan điểm phải phân loại ra với các bình luận thông thường Không chi vậy, quan điểm còn có thể thay đồi theo thời gian. Đây là một thách thức cần phải được xem xét, làm sao dé theo đõi các quan điểm thay đồi theo thời gian. Ví dụ “Apple mới nâng cấu cấu hình cho iPhone5S. Khá là khủng đấy”, bình luận này này có thể phù hợp vào năm 2013 nhưng sau 2 hoặc 3 năm thì không còn phù hợp nữa.
Ngoài ra các quan điểm mang tính chất so sánh mà không trực tiếp nói đến sản phẩm được quan tâm. Ví dụ trong một bài viết về dòng điện thoại Samsung có những nhận xét như: “So với máy dòng Android khác thì tốt nhưng còn thua xa Iphone lắm =)))”. Những nhận xét so sánh với những sản phẩm khác khiến cho các thông tin bị nhiều và rất dễ dẫn đến sai lệch trong việc đánh giá quan điểm. Một thách thức lớn đối với khai phá quan điểm xuất hiện khi mọi người thể hiện đánh giá tích cực và tiêu cực trong cùng một câu.
Mọi người có nhiều ý kiến khác nhau trong cùng một câu. Những câu như vậy có thể gây khó khăn để phân tích cú pháp hoặc khai phá quan điểm. Trong luận văn của này, tôi đã cố gắng để giải quyết vấn đề này bằng việc xây dựng công cụ tách các ý quan điềm trong các câu có đánh giá về nhiều tính năng thành các ý nhỏ. Trong đó, mỗi ý chỉ bao gồm một tính năng và một ý kiến đánh giá.
Ứng dụng khai phá quan điểm Ứng dụng vào việc nghiên cứu thị trường cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Người tiêu dùng khi muốn mua một sản phẩm nào đó, họ thường muốn biết sản phẩm đó có phù hợp với mình không, cửa hàng nào có dịch vụ hậu mãi tốt, giá ở đâu rẻ hơn. đối với họ thì quan điểm của những người đã từng sử dụng sản phẩm là một nguồn thông tin rất quan trọng với họ. Hay đối với doanh nghiệp, trước khi đưa ra một sản phẩm mới hay bắt đầu việc kinh doanh, các doanh nghiệp cũng muốn biết xu hướng thị hiếu của người tiêu dùng trong thời điểm hiện tại, thái độ của người tiêu dùng đối với những sản phẩm có tính năng tượng tự như thế nào, có những điểm chưa tốt nào cần khắc phục.khi đó việc biết được quan điểm của khách hàng là rất quan trọng.
Khai phá quan điểm cũng có vài trò quan trọng như một công nghệ hỗ trợ cho các hệ thống khác. Một ứng dụng tiềm năng đó là ta có thể áp dụng khai phá quan điểm trong các hệ thống khuyến cáo, giúp cho hệ thống đưa ra các gợi ý về các sản phẩm cho người dùng mà có khả năng người dùng quan tâm là cao nhất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ví dụ như trong các hệ thống trực tuyến, các quảng cáo được hiển thị ở góc màn hình cn được kiểm tra xem có phù hợp với nội dung trang web hay không. Ngoài ra khai phá quan điểm còn có thé được ứng dung vào chính phủ điện tử.
Chẳng hạn như khi một dự luật được đưa ra, chính phủ rất muốn lấy ý kiến của nhân dân về dự thảo luật, xem rằng nó có hợp lý hay không, nhân dân có những phản ứng như thé nào về nó. Khai phá quan điểm cũng được dùng rất nhiều trong hệ hỗ trợ quyết định, nhất là đối với những vấn đề về kinh tế, xã hội. Đối với sự kiện chặt 6700 cây xanh ở Hà Nội, phản ứng không đồng tình của người dân đã có tác động to lớn đối với chính quyền Ủy ban nhân dân thành phó Hà Nội, Bí thư thành ủy Hà Nội phải ra quyết định xem xét và xử lý đối với sở, ban ngành liên quan. Hay đối với tin tức về vụ xử phạt đối với quán café Xin chào tại thành phó Hồ Chí Minh đã buộc thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ra chỉ đạo xem xét, dừng khởi tố vụ án.
Những nghiên cứu, sản phẩm của khai phá quan điểm Hiện nay trên thế giới đã có nhiều các nghiên cứu liên quan đến khai phá quan điểm. Có cả những nghiên cứu về mặt lý thuyết dưới dạng các bài báo cáo khoa học cho đến những ứng dụng cụ thé đã được công khai trên những trang mang và đưa vào sử dụng. Về mặt sản phẩm ứng dụng hiện nay phải kể đến 2 trang web Sentiment140 và Tweet Sentiment Visualization. Với việc hướng đến kho dữ liệu là các bình luận trên mạng xã hội Twitter, người dùng có thể nhập đầu vào là một thực thể dưới dang từ khóa mà họ quan tâm, ví dụ: “Iphone”, “Ronaldo”, “Obama”.
hệ thống sẽ tổng hợp, tìm kiếm sau đó đưa ra phân tích và thống kê.