CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Nghiên cứu tổng quan thực trạng hiện nay 1.1 Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí hiện nay Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí đang là vấn đề nhức nhối của thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Theo Báo cáo thường niên về chỉ số môi trường (The Environmental Performance Index - EPI) do tổ chức Môi trường Mỹ thực hiện, Việt Nam là một trong 10 nước ô nhiễm môi trường không khí hàng đầu Châu Á. Tiêu biểu là ô nhiễm bụi (PM 10, PM 2. Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là nơi bị ô nhiễm không khí nặng nhất của cả nước, có nhiều thời điểm bụi mịn (PM 2.5) bao phủ cả bầu trời làm hạn chế tầm nhìn, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân.
Tính đến tháng 2/2020, Việt Nam có gần 3,6 triệu xe ô tô và hơn 45 triệu xe máy. Các phương tiện này là nguyên nhân lớn nhất gây ra ô nhiễm không khí tại nước ta. Từ năm 2010 - 2017, nồng độ bụi PM2.5 luôn có xu hướng tăng mạnh. Từ năm 2019 đến nay, tình trạng cao điểm ô nhiễm khí xảy ra rất thường xuyên tại các thành phố lớn cả nước.
Điển hình là Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ số báo cáo chất lượng không khí hàng ngày (Air Quality Index - AQI) tại các thành phố này dao động trong mức 150 - 200, đây là mức báo động rất nguy hiểm. 1 Biểu đồ mức độ ô nhiễm môi trường tại một số đô thị tháng 8-2020 1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm môi trường không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần không khí, do khói, bụi, hơi hay các khí lạ được đưa vào không khí gây nên các mùi lạ, làm giảm tầm nhìn, biến đổi khí hậu. Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người cũng như động thực vật trên trái đất.
2 Ô nhiễm không khí tại đô thị hiện nay Ô nhiễm không khí do giao thông vận tải là nguyên nhân lớn nhất gây ô nhiễm không khí hiện nay. Với một số lượng các phương tiện giao thông khổng lồ và di chuyển liên tục, lượng khí thải từ các phương tiện này cũng vô cùng khủng khiếp. Đặc biệt, đối với những xe đã cũ, hệ thống máy móc hoạt động kém thì lượng khí thải càng lớn. Các phương tiện giao thông thải vào không khí các chất độc hại như: CO, NO2, SO2, PM.
với nồng độ cực cao và liên tục. Nguyên nhân này chỉ đứng sau hoạt động công nghiệp, khi mà lượng khí thải từ các phương tiện giao thông xả ra môi trường rất lớn. Theo báo cáo Cơ quan năng lượng Quốc tế (IEA) giao thông vận tải đóng góp 24,34% lượng Carbon mỗi năm.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng môi trường không khí Ô nhiễm môi trường được đánh giá thông qua một số chỉ số, như chỉ số về chất lượng môi trường không khí AQI, chỉ số nồng độ bụi mịn PM 2.5 và một số chỉ số giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh. a) Chỉ số AQI Theo Nghiên cứu phát triển phương tiện giao thông điện tại Việt Nam - Báo cáo thuộc dự án Sáng kiến giao thông trong NDC cho các nước châu Á (NDC- TIA) tháng 8 năm 2021 AQI (Air Quality Index) là một chỉ số báo cáo chất lượng không khí hàng ngày.
Đây được coi là một thước đo đơn giản hóa mức độ ô nhiễm không khí, cho biết không khí xung quanh ta là sạch hay ô nhiễm, ô nhiễm đến mức độ nào. Rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng càng cao khi chỉ số AQI càng lớn. Chỉ số AQI tập trung vào sự ảnh hưởng tới sức khỏe người dân có thể gặp trong vòng vài giờ hoặc vài ngày sau khi hít thở không khí ô nhiễm Theo kết quả tính điểm, chỉ số AQI sẽ được phân loại thành 6 nhóm chính như sau: 0-50: Tốt; 51- 100: Trung bình; 101-150: Không lành mạnh cho các nhóm nhạy cảm; 151-200: 2 Không lành mạnh; 201-300: Rất không lành mạnh; 301-500: Nguy hiểm. 1 Phân loại chất lượng chỉ số AQI b) Giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh Giá trị giới hạn của các thông số cơ bản trong không khí xung theo QCVN 05: 2013/BTNMT, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh được giới thiệu tại Bảng 1.
2 Giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình TT Thông số 1 giờ 8 giờ 24 giờ năm 1 SO2 350 - 125 50 2 CO 30 10 - - 3 NO2 200 - 100 40 4 O3 200 120 - - Tổng bụi lơ 5 300 - 200 100 lửng(TSP) 6 Bụi PM10 - - 150 50 7 Bụi PM2.5 Ghi chú: dấu (-) là không quy định; Đơn vị đo:μg/m3 1.4 Hiện trạng chất lượng không khí trên địa bàn Hà Nội a) Đánh giá về môi trường không khí tại Hà Nội Hình 1. 3 Tỷ lệ số ngày trong tháng 1 - 3/2020 có giá trị trung bình 24 giờ của PM2.5 vượt QCVN tại các trạm quan trắc trên địa bàn Hà Nội 3 Đánh giá theo chỉ số chất lượng không khí (AQI) cho thấy, trong 3 tháng Quý III năm 2020 , chất lượng không khí tại các khu vực có trạm đo ở mức trung bình (tỷ lệ ngày có chất lượng không khí ở mức trung bình tại các trạm trên địa bàn TP. Hà Nội dao động trong khoảng 50 - 60%). Tại các khu vực ngoại vi, hoặc nơi có không gian thoáng, nhiều cây xanh như Nguyễn Văn Cừ, Mỹ Đình, Tân Mai, Tây Mỗ, số lượng ngày có chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình chiếm tỷ lệ cao.
Một số khu vực như Phạm Văn Đồng, Hàng Đậu, Minh Khai, số ngày có chất lượng không khí ở mức kém và xấu cao hơn. Đây là những nơi có mật độ phương tiện giao thông cao, các công trình xây dựng đang diễn ra, làm phát sinh lượng bụi lớn vào môi trường (Hình 1. Theo dõi diễn biến nồng độ bụi PM2.5 qua các giờ trong ngày cho thấy, nồng độ bụi PM2.5 dao động trong khoảng từ 40 - 80 μg/m3, thường tăng cao vào các giờ cao điểm, khi mật độ giao thông lớn. 3 Số liệu quan trắc chỉ số AQI trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2020 1.5 Thành phần khí thải xe máy Trong quá trình hoạt động xe máy phát thải vào không khí một khối lượng lớn các loại khí độc CO, HC.
Ngoài ra nó còn thải ra các khí độc hại khác như CO2. NOx, SO2 cũng như khói đen và các vật chất dạng hạt khác. Tùy theo loại xe và loại nhiên liệu mà khối lượng các chất thải độc hại chiếm tỷ lệ khác nhau trong khí xả. Cacbon monoxit (CO): CO là sản phẩm cháy không hoàn toàn của nhiên liệu.
Phương tiện cơ giới là nguyên nhân chủ yếu gây ra độ tập trung CO cao ở các khu vực đô thị. Nhiễm độc CO có thể gây thiếu oxy trong máu và mô, hệ thần kinh, tim mạch. Hyđrô cacbon (HC) có 3 nguồn thải hydrocacbon từ các phương tiện giao thông: (i) Từ khí thải; (ii) Thoát ra bằng cách bay hơi; (iii) Thoát ra từ cacte (lượng này tuy thấp nhưng lại chứa các hydrocacbon cấu tạo phức tạp, có khả năng gây ung thư ở con người). 4 Các oxit nitơ (NOx) ở các khu đô thị, giao thông thải ra khoảng 50% lượng NOx trong không khí.
NOx được dùng để chỉ hỗn hợp NO và NO2 trong không khí đồng thời cũng có mặt. NO và NO2 đóng vai trò quan trọng trong ô nhiễm không khí. Hạt bụi mịn (PM2.5) là khái niệm chung chỉ các hạt có kích thước nhỏ hơn 2,5 micromet. Loại hạt này được sinh ra chủ yếu khi quá trình cháy của động cơ đốt trong.
Do kích thước chúng rất nhỏ nên chúng có thể xâm nhập sâu vào các cơ quan nội tạng con người như tim, phổi. gây ra các bệnh nghiêm trọng như giảm chức năng của phối, gia tăng các triệu chứng khó thở, suy hô hấp; gây rối loạn nhịp tim và các cơn đau tim. Ngoài ra các hạt PM còn tác động trực tiếp tới môi trường do tính chất hóa học của chúng như gây mưa axit, mất cân bằng dĩnh dưỡng của đất tại các lưu vực sông, ô nhiễm nguồn nước bởi tính axit,.2 Tổng quan về xe máy đang lưu hành trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong khoảng một hai thập niên trước đây, xe gắn máy có số lượng rất ít, là một sản phẩm mới, mang ý nghĩa là một tài sản lớn hơn là một phương tiện giao thông. Những năm gần đây, xe gắn máy đã trở nên phổ biến hơn và hầu như đã trở thành phương tiện giao thông chính của đại đa số người dân.1 Tổng quan về số lượng và thành phần xe máy a) Số lượng xe máy trên địa bàn thành phố Hà Nội Theo thống kê của Cục đăng kiểm Việt Nam và Công an thành phố Hà Nội, số lượng các phương tiện giao thông trên địa bàn Thành phố tính đến tháng 12/2017 trên địa bàn Thành phố có 5.310 xe mô tô, xe gắn máy các loại, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2017 đạt 6,23%/năm.
Từ số liệu trên cho thấy xe máy là phương tiện chủ yếu được người dân thành phố sử dụng cho đi lại, Tỷ lệ xe máy chiếm khoảng 90% trên tổng số phương tiện giao thông đường bộ của Hà Nội. b) Thành phần xe máy Hiện nay, xe mô tô, xe gắn máy trên thị trường có nhiều kiểu loại và nhiều nhà sản xuất cung cấp, mẫu mã rất đa dạng. Theo số liệu thống kê, hiện nay, loại xe máy chủ yếu sử dụng phổ thông có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 chiếm 99.9% tổng số xe máy trên cả nước. Tổng quan về các tiêu chuẩn giới hạn khí thải xe máy Tại Việt Nam, hiện nay, đối với mô tô, xe gắn máy đang lưu hành, tiêu chuẩn về giới hạn lớn nhất cho phép của các chất gây ô nhiễm trong khí thải được quy định tại tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6438 : 2005.
Đến nay, tiêu chuẩn quốc gia này vẫn còn hiệu lực. Theo đó giới hạn lớn nhất cho phép của các chất gây ô nhiễm 5 trong khí thải mô tô, xe gắn máy được quy định áp dụng mức 1 và mức 2. Đối với xe máy lắp ráp và nhập khẩu mới, theo Quyết định 49/2011/QĐ- TTg, phải áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức 3 từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Đối với ô tô sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới phải áp dụng áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức 4 từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 và mức 5 từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.