PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: 1. Nhóm đề tài về BGX: Nghiên cứu “Study of parking systems in Hanoi and Strengthen its effectiveness” vào năm 2008 của Đặng Thị Thu Thảo, bộ môn Kỹ thuật Đô thị - trường đại học Tokyo (Nhật Bản) đề cập đến vấn đề gửi xe tại Hà Nội. Bài nghiên cứu đã nêu rõ những khó khăn trong vấn đề đất giữ xe.
Đối tượng khảo sát của đề tài này là lượng xe ra vào thành phố trong ngày và khoảng cách từ BGX đến nơi cần tới. Những khảo sát quan trọng này trong bài luận đã thể hiện được BGX hiện nay không đủ cung ứng cho nhu cầu gửi xe của người dân trong và ngoài khu vực. Đồng thời chỉ rõ những vấn đề bất cập giữa nơi đến và nơi giữ xe. Tuy nghiên cứu đã đưa ra đề xuất học tập mô hình BGX ngầm trong các tòa nhà công sở nhưng lượng cung vẫn chưa đáp ứng được lượng cầu quá lớn của người dân.
Mặc dù nhóm chúng tôi cũng sẽ thực hiện thống kê, khảo sát các BGX nhưng mục đích nhằm lập bản đồ để hỗ trợ người dùng đạt được sự thuận tiện nhất. Hai bài nghiên cứu có chung một số công đoạn nhưng kết quả sẽ khác nhau. Kết quả đạt được của đề tài chúng tôi sẽ gần gũi và thực hiện ít tốn kém kinh phí hơn. Bài viết “Giữ xe kiểu quận 5” được đăng trên báo Người Lao Động vào ngày 30/11/2011 của tác giả Ánh Nguyệt.
Tác giả cho thấy bản chất của việc phát triển kinh tế ở quận 5 (chủ yếu là các hoạt động kinh doanh, buôn bán sầm uất) cùng với thực trạng về không gian giữ xe quá tải làm nổi bật việc giải quyết nhu cầu gửi xe cho người dân là vấn đề nan giải. Bài viết đã đưa ra những bước đầu thực thi thí điểm việc quy hoạch lại BGX hai bánh ở những tuyến đường có vỉa hè rộng nhằm đáp ứng nhu cầu gửi xe của người dân. Như vậy, phần nào tạo thói quen đi bộ cho người dân đến khu vực gần đó. Trong bài viết, tác giả đã nêu lên những việc làm cụ thể như quy hoạch các vỉa hè có chiều rộng từ 3m trở lên cho phép người dân để xe tự quản trước nhà.
Đối với những vỉa hè từ 6m trở lên như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Hồng Phong, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Chí Thanh, Lý Thường Kiệt… thì nên quy hoạch thành các BGX lớn. Một số hẻm lớn và một số đường nội bộ rộng rãi tại các chung cư cũng được sắp xếp để làm BGX, phục vụ cho người dân tại khu vực. Ngoài ra, bài viết còn đề cập vấn đề khó khăn ở chỗ nhu cầu gửi xe ở từng khu vực không đồng đều, gây khó khăn trong việc lập bãi. Cuối cùng, tác giả đã nêu ra những việc làm khá rõ ràng mà UBND quận 5 đã định hướng quy 4 hoạch thực hiện.
Từ đó sẽ tạo cái nhìn rõ nét cho người dân trong việc góp phần giảm tải ùn tắc giao thông, phát triển đô thị văn minh - hiện đại. Trong hai đề tài trên, các tác giả đưa ra ý kiến đề xuất cải thiện tình trạng thiếu đất giữ xe. Tuy nghiên cứu trên khảo sát cùng khách thể (chủ giữ xe, khách gửi xe,…) với chúng tôi nhưng không nhắm đến các khu vực có đặc điểm khác nhau. Kế tiếp, các nghiên cứu trên khi áp dụng vào thực tế đều đòi hỏi chi phí cao, mất nhiều thời gian hoàn thành.
Bài viết: “Chuyển đổi công năng BGX - vì quyền lợi trước mắt”, tác giả Q.Trần 1 đăng tải trên báo online www. Nội dung bài viết đề cập đến vấn đề chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng của các BGX sai với quy hoạch ban đầu của thủ đô Hà Nội - khu vực hiện nay không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng BGX. Nhiều BGX tuy đã có quy hoạch hoàn chỉnh nhưng khi ra ngoài thực tế đã bị biến thành các trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng,. Tất cả chỉ vì lợi ích kinh tế trước mắt của chính quyền địa phương.
Điều này khiến cho tình trạng thiếu BGX ở Hà Nội vẫn không được giải quyết. Tác giả bài viết đã đưa ra những trường hợp tiêu biểu cho tình trạng này ở Hà Nội. Nguyễn Xuân Thủy, nguyên Giám đốc, Tổng biên tập NXB Giao thông vận tải (Bộ Giao thông vận tải), tình trạng thiếu hụt BGX tại thành phố và đưa ra con số 10 - 15% khả năng đáp ứng nhu cầu gửi xe của người dân. Do đó, Hà Nội cần phải có những quy hoạch, chính sách hoặc biện pháp cụ thể để tăng cường các điểm hoặc garage giữ xe và tích cực kêu gọi xã hội hoá đầu tư cho lĩnh vực này.
Tuy nhiên, bài viết chưa nêu rõ hướng giải quyết cụ thể cũng như những tiêu chuẩn, định nghĩa, số liệu cụ thể về việc xây dựng, sử dụng BGX - những điều mà trong bài của nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra. Định hướng của nhóm sẽ tập trung vào đánh giá những BGX hiện hữu để đưa ra những lựa chọn thuận lợi cho người dân. Bài viết “TP.HCM tìm “phương án” ưu đãi BGX” đăng trên báo www.com vào 12/11/2013 của phóng viên Tùng Nguyên2. Tác giả bài viết đã nêu lên thực trạng khó khăn của 1 Nguồn: http://www.com/xa-hoi/chuyen-doi-cong-nang-bai-giu-xe-vi-loi-truoc-mat- a2684.Ut6SgBBurIV, thời gian truy cập 13:00 30/1/2014.
2 Nguồn: http://dantri.vn/xa-hoi/tpHồ Chí Minh-tim-phuong-an-uu-dai-bai-giu-xe-801954.htm, thời gian truy cập 13:30, 30/1/2014. 5 người dân trong việc tìm BGX trong trung tâm TP. Từ vấn đề thiếu BGX ở khu vực trung tâm thành phố, khiến cho giá giữ xe ở nhiều nơi tăng quá mức quy định đến việc nhiều BGX không nhận giữ xe đạp, giữ xe với thời gian ngắn… Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến tình trạng thiếu chỗ đỗ xe ở những cao ốc trong trung tâm thành phố hay việc thu hẹp tối đa diện tích BGX để tận dụng vào việc sinh lời khác. Tác giả đã đưa ra số liệu kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ GTVT về công tác quản lý, sử dụng lòng đường, hè phố trên địa bàn thành phố vào cuối năm 2012, kết quả khảo sát 80 cao ốc cho thấy gần 74% tòa nhà không đủ chỗ đỗ xe, 7,5% tòa nhà không có chỗ đỗ xe, chỉ có gần 19% tòa nhà đủ chỗ đỗ xe.
Cuối cùng, tác giả đề cập đến việc các nhà đầu tư không mặn mà đầu tư xây dựng các BGX vì khả năng sinh lời thấp cộng với những chính sách quản lý nghiêm ngặt của chính quyền thành phố dẫn đến tình trạng nhiều BGX không được xây dựng do thiếu chủ đầu tư. Tuy bài báo đã nêu được những vấn đề hiện tại về BGX và việc gửi xe của người dân, nhưng tác giả vẫn chưa đưa ra được giải pháp cụ thể, chưa nắm bắt chính xác nhu cầu của người dân. Nghiên cứu của nhóm sẽ khắc phục khuyết điểm này bằng việc thu thập được ý kiến người dân qua phỏng vấn. Hơn thế nữa, chúng tôi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân chủ động tìm được địa BGX hợp lý.
Hai nghiên cứu này đã đưa ra được thực trạng hiện nay các BGX bị thay đổi chức năng. Vì lí do lợi ích của một số nhóm người mà diện tích giữ xe phục vụ cho nhu cầu tất yếu của người dân bị thu hẹp. Chính nhờ những bài báo này, nhóm nghiên cứu đã có định hướng để tìm hiểu sâu hơn về nhu cầu được giữ xe của người dân. Từ đó, đưa ra hướng đề xuất các địa điểm BGX phù hợp.
Nhóm đề tài ứng dụng GIS: Bài nghiên cứu: “Ứng dụng GPS và GIS trong công tác quản lý xe buýt trên địa bàn TP.HCM” của tác giả Lê Văn Trung thuộc Trung tâm địa tin học - Khu công nghệ phần mềm - Đại học quốc gia TP.HCM, đăng trên tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ, tập 15, số M1- 2012. Bài viết đã nêu lên những hạn chế trong công tác quản lý và điều hành hoạt động xe buýt trên địa bàn TP. Qua đó, tác giả đã đưa ra đề xuất xây dựng hệ thống tích hợp GPS và GIS nhằm giới thiệu phương pháp nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý xe buýt. Bài viết đã nêu rõ những hạn chế trong phương pháp quản lý xe buýt hiện tại: Từ quản lý thủ công bởi đội 6 kiểm tra trên tuyến và nhân viên điều hành dẫn đến thông tin chủ quan; tình trạng thiếu nhân lực phục vụ công tác quản lý khi cần mở rộng tuyến đến chất lượng phục vụ chưa được giám sát đầy đủ.
Ngoài ra, chưa có hệ thống thông tin liên lạc giữa tài xế và trung tâm điều hành. Căn cứ vào những thực trạng trên, tác giả đã đề xuất sử dụng module di động (Blackbox) gắn trên xe buýt để quản lý về không gian (vị trí bến xe, trạm dừng, nhà chờ…); về thuộc tính của các tuyến xe buýt (thông tin về lộ trình, đơn vị quản lý, nhân sự vận hành…). Nhờ vậy sẽ tạo ra khả năng tương tác cao giữa trung tâm điều hành, tài xế xe buýt và hành khách như cảnh báo tài xế tức thời trong trường hợp xảy ra vi phạm. Bài viết đã đưa ra sáng kiến hay nhằm giảm thời gian, nhân lực khi quản lý việc vận hành xe buýt.
Tuy nhiên, do không phải là một đề tài nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh nên bài viết không thể đưa ra số liệu thống kê cụ thể từ khảo sát thực tế. Mặc dù có điểm tương đồng về phát huy khả năng của ứng dụng GIS nhưng bài nghiên cứu của chúng tôi có thể đưa ra những tư liệu khách quan cụ thể (diện tích BGX, thời gian hoạt động, thông tin chủ BGX…) thu thập được thông qua khảo sát thực tế, thống kê dựa vào việc điều tra xã hội học người dùng, nhà quản lý. Đồng thời, kết quả nghiên cứu mà nhóm đạt được sẽ hiện thực hóa ý tưởng khi cho ra bản đồ (bản giấy và bản điện tử trình chiếu trên máy tính) các BGX hai bánh. Ngoài ra, ưu điểm khác trong đề tài nghiên cứu của nhóm là kinh phí thấp hơn dễ áp dụng vào thực tế hơn so với trang bị module và bảo trì thiết bị trên hệ thống xe buýt như đề tài trên đã đề xuất.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật: “Nghiên cứu ứng dụng GIS trong công tác quản lý mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Đinh Thị Phượng chuyên ngành Khoa học máy tính thuộc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Bài nghiên cứu đã đề xuất được các phương án, giải pháp nhằm xây dựng phần mềm phù hợp với hiện trạng, phục vụ cho nhu cầu quản lý giao thông đường bộ ở tỉnh Vĩnh Phúc.