CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG LIÊN HỆ VỚI LỊCH SỬ THẾ GIỚI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về tình huống Theo Từ điển Tiếng Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một địa điểm, trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải quyết. Tình huống cũng có thể được hiểu là sự mô tả hay trình bày một trường hợp có thật trong thực tế hoặc mô phỏng nhằm đưa ra một vấn đề chưa được giải quyết và qua đó đòi hỏi người đọc (người nghe) phải giải quyết vấn đề đó.
Ở góc độ Tâm lý học “tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó. Trong quan hệ không gian, tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể. Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể. Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động” [10, tr.
Như vậy, tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn xung đột. Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện có cốt truyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính phức hợp được viết ra để minh chứng một vấn đề hay một số vấn đề của cuộc sống thực tế. Việc nhận thức được những mâu thuẫn nảy sinh trong tình huống và giải quyết được tình huống mang tính chủ quan. Tình huống đặt trong môi trường chứa đựng những mâu thuẫn.
Vì vậy có những vấn đề đặt trong tình huống này thì phải giải quyết theo cách này nhưng đặt trong tình huống khác phải giải quyết theo cách khác. Khái niệm về tình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề là khái niệm chủ yếu của dạy học nêu vấn đề. Mấu chốt của dạy học nêu vấn đề là tạo ra được các tình huống có vấn đề trên cơ sở tạo ra các mâu thuẫn khách quan được HS chấp nhận và tìm cách giải quyết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lecne quan niệm: Tình huống có vấn đề là một khó khăn được chủ thể ý thức rõ ràng hay mơ hồ, mà muốn khắc phục thì phải tìm tòi những tri thức mới, những phương thức hành động mới. Nói tóm lại, các định nghĩa về tình huống có vấn đề đều đề cập chung đến một điểm như sau: “Tình huống luôn chứa đựng vấn đề mâu thuẫn và kích thích người học mong muốn, hứng thú giải quyết” [25, tr. Trong giảng dạy, tình huống không phải là những trường hợp bất kỳ trong thực tế mà là những tình huống đã được điều chỉnh, nghiên cứu kỹ lưỡng để mang tính điển hình và phục vụ tốt cho mục đích và mục tiêu giáo dục, tức là giúp cho người học có thể hiểu và vận dụng tri thức cũng như rèn luyện được các kỹ năng và kỹ xảo. Tình huống được sử dụng để kích thích người học phân tích, bình luận, đánh giá, suy xét và trình bày ý tưởng của mình để qua đó, từng bước chiếm lĩnh tri thức hay vận dụng những kiến thức đã học vào những trường hợp thực tế.
Lecne quan niệm: “vấn đề là một tình huống có vấn đề mà chủ thể tiếp nhận để giải quyết dựa trên các phương tiện (tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm tìm tòi) sẵn có của mình” [25, tr. Khái niệm bài tập tình huống Có nhiều cách hiểu khác nhau về bài tập tình huống. Theo cách hiểu của D. Izarenkov (1994), bài tập tình huống là “sự tổ chức tối ưu các loại hình bài tập có định hướng theo điều kiện dạy – học cụ thể, nhằm hình thành ở người học kỹ năng giao tiếp học tập với một khối lượng đã xác định ở một trình độ nhất định” [5, tr.
Tình huống trong bài tập là những tình huống xây dựng trong quá trình dạy học và được cấu trúc dưới dạng bài tập. Bài tập tình huống là dạng bài tập đòi hỏi hoạt động nhận thức của người học phải có tính nỗ lực, tìm tòi vận dụng kiến thức một cách tích cực sáng tạo. Tình huống – gắn với câu hỏi, bài tập, với yêu cầu đặt ra là người học phải lí giải, giải thích (Tình huống “Tại sao”), phải lựa chọn (Tình huống lựa chọn), hay phải đi tìm cái mới, cách mới theo phương pháp mới do phương pháp cũ không thể áp dụng được, không khả thi (Tình huống bế tắc). Bài tập tình huống chứa đựng tình huống có vấn đề, ở đó chứa những khó khăn nào đó chưa được chủ thể là người học ý thức rõ ràng hoặc còn mơ hồ.
Muốn khắc phục, HS phải huy động tri thức vốn có, tìm tòi tri thức mới, những phương thức hành động mới, có tác dụng kích thích tư duy, lôi cuốn người học vào nội 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung học tập, giúp HS phát huy tính chủ động, sáng tạo, đặt họ vào tình huống và phải đi tìm ra hướng giải quyết. Nói cách khác, bài tập tình huống trở thành đối tượng của hoạt động nhận thức của HS trong bài học lên lớp chừng nào làm xuất hiện trong ý thức của HS một mâu thuẫn nhận thức tự giác, một nhu cầu bên trong muốn giải quyết mâu thuẫn đó. Như vậy, khi HS chấp nhận mâu thuẫn bên trong của bài tập tình huống (cái khách quan) thành mâu thuẫn và nhu cầu bên trong của bản thân mình (cái chủ quan) thì người học biến thành chủ thể của hoạt động học tập. Khái niệm bài tập tình huống liên hệ lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
Mối liên hệ có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú. Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào, ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác.
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau. Các mối liên hệ này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng. Bài tập tình huống liên hệ lịch sử thế giới trong dạy học lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông là cách tiếp cận trong mối tương quan so sánh và liên hệ giữa Việt Nam và thế giới, trải rộng trên nhiều lĩnh vực như giao lưu văn hóa; truyền thống dân tộc; an ninh, chính trị; kinh tế; tôn giáo; quan hệ ngoại giao; môi trường. góp phần nâng cao khả năng hội nhập khu vực và quốc tế trong hoạt động học tập môn Lịch sử nói chung và học tập lịch sử dân tộc nói riêng ở trường THPT.
Việc xây dựng và sử dụng bài tập tình huống liên hệ lịch sử thế giới trong dạy học lịch sử Việt Nam trong hoạt động học tập một mặt, GV không 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nên áp đặt các em HS học thuộc kiến thức mà quan trọng là thách thức người học với các góc nhìn, đánh giá khác nhau, có quan điểm tiếp cận có tư duy; mặt khác, sự chủ động và có ý thức chọn lọc, tăng cường trao đổi thông tin giữa những người học với nhau là yếu tố rất cần thiết, đồng thời tăng cường tính tương tác giữa người dạy và người học và giữa người học với nhau. Theo chúng tôi, việc xây dựng bài tập tình huống liên hệ lịch sử thế giới trong dạy học lịch sử Việt Nam có thể được tiếp cận theo các hướng sau: Thứ nhất, bài tập tình huống liên hệ giữa sự kiện lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới theo quan hệ đồng đại (liên hệ cấu trúc, liên hệ song song). Những liên hệ này chỉ mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và đồng thời của các sự kiện lịch sử. Bài tập tình huống sẽ đi vào nghiên cứu và so sánh những dữ kiện khác nhau xảy ra trong cùng một thời gian lịch sử để làm rõ mối liên hệ lẫn nhau giữa các sự kiện, hiện tượng cần xem xét và tính hệ thống của nó.
Ví dụ: Khi dạy bài 16: “Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời”. Từ những điều kiện dẫn đến thời cơ của cách mạng tháng Tám, GV đưa ra bài tập tình huống liên hệ với lịch sử thế giới như: Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc: ở châu Âu, phát xít Đức bị tiêu diệt hoàn toàn, buộc phải đầu hàng Đồng minh không điều kiện (5/1945); ở châu Á, quân phiệt Nhật cũng đã đầu hàng Đồng minh (8/1945). Vào thời điểm thuận lợi của tháng Tám năm 1945, cơn bão táp giải phóng dân tộc khởi nguồn từ Đông Nam Á.
Các nước Đông Nam Á và Việt Nam đã tận dụng tình hình đó như thế nào để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc? Tại sao nói thời cơ cách mạng đã chín muồi khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh? Giải quyết bài tập trên, HS nhận thức được hoàn cảnh lịch sử đưa đến quyết định tổng khởi nghĩa của Đảng ta và phân tích được thời cơ cách mạng chín muồi của nước ta là ngay sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh và trước khi quân Đồng minh vào nước ta. Đầu tháng 8 năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới đi vào giai đoạn kết thúc. Sau khi tiêu diệt phát xít Đức tại sào huyệt của chúng, Liên Xô quay sang tấn công phát xít Nhật. Phong trào đấu tranh chống Nhật bùng lên mạnh mẽ ở các nước phía Đông và Đông Nam châu Á.
Thời cơ cách mạng đang mở ra 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.