Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT SỬ DỤNG NGUỒN NƢỚC CỦA TRUNG QUỐC 1. KHÁI NIỆM NGUỒN NƢỚC ( TÀI NGUYÊN NƢỚC) THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC Nước là một loại tài nguyên quí giá và được coi là vĩnh cửu. Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta. Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động sinh hoạt và kinh tế của con người.
Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thủy sản vv.Do tính chất quan trọng của nước như vậy nên UNESCO lấy ngày 22/3 là ngày nước thế giới. Tài nguyên nước là lượng nước trong sông, ao hồ, đầm lầy, biển và đại dương và trong khí quyển, sinh quyển. Đối với hàng ngàn năm trước đây, loài người cho rằng nguồn cung cấp nước là trời cho, nhưng bây giờ khái niệm này đã được thử thách. Tình hình khẩn cấp của môi trường nước đã thúc đẩy con người tới sự hiểu biết mới về nguồn nước bởi nguồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại của con người, môi trường sinh thái và hệ thống kinh tế - xã hội, các yếu tố này có quan hệ liên kết chặt chẽ hữu cơ với nhau.
Nguồn nước là một thành phần gắn với mức độ phát triển của xã hội loài người tức là cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ mà nguồn nước ngày càng được bổ sung trong ngân quỹ nước các quốc gia. Thời kỳ nguyên thủy, nguồn nước chỉ bó hẹp ở các khe suối, khi con người chưa có khẳ năng khai thác sông, hồ và các thủy vực khác. Chỉ khi kỹ thuật khoan phát triển thì nước ngầm tầng sâu mới trở thành tài nguyên nước. Có nhiều định nghĩa về nguồn nước.
Theo định nghĩa của UNESCO thì: Nguồn nước là sự có sẵn có thể được sử dụng với số lượng và chất lượng có sẵn từ một nơi có nhu cầu cung cấp lâu dài về nguồn nước. Trong “Bách khoa toàn thư của Vương Quốc Anh”, nước được định nghĩa là “bất kỳ hình thức nào tạo ra nước của thiên nhiên, bao gồm hơi nước, nước ở dạng lỏng và dạng rắn”. Theo Cơ quan Môi trường và Phát triển của Liên Hiệp Quốc (1992) chủ trương “phát triển bền vững”, hiện đại của con người là phát triển phải để lại đủ số lượng tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái tốt, đủ để đáp ứng nhu cầu tiếp theo cho sự sống còn và phát triển của con người, nếu không sẽ phá hủy tương lai của môi trường và phân sách chịu chi phí tài nguyên nước. Theo “Trung Quốc Bách khoa toàn thư” là cuốn sách tham khảo có uy tín nhất, thì trong những lĩnh vực khác nhau thì khài niệm về nước cũng khác nhau: Như theo khoa hoc khí quyển, khoa học biển thì: “nước có sẵn trong bề mặt trái đất cho con người, kể cả nước( chất lượng nước) và các nguồn thủy điện, thường dùng để chỉ số lượng nước hàng năm được tái tạo trong bề mặt trái đất”.
Căn cứ theo khối lượng khoa học của nước thì “Nước là dạng tồn tại khác nhau của thiên nhiên (khí, rắn hoặc lỏng), nước tự nhiên và nguồn nước có sẵn”. Năm 1999 Bộ Tài nguyên nước Trung Quốc đã ban hành “Hướng dẫn cho việc đánh giá tài nguyên nước” (SL/T238-1999), cũng chỉ ra rằng “số lượng tài nguyên nước dưới đất, chủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu từ lượng mưa, tích vào nguồn nước mặt và có mối quan hệ năng động trực tiếp với lượng nước dưới nước. Ngoài ra còn một số các định nghĩa truyền thống về nguồn nước dưới đất năm 1998: lưu trữ và vận chuyển trong đất đá, chất lượng và số lượng là giá trị sử dụng tài nguyên nước là một phần của trái đất, lượng mưa không khí và nước bề mặt tiếp xúc gần gũi và chuyển đổi lẫn nhau. Năm 2003 cũng đưa ra một quan điểm: “tài nguyên nước ngầm bao gồm nguồn lưu trữ nước ngầm và nguồn nước không tham gia vào chu trình nước hiện đại, không tái tạo và khả năng lưu trữ phục hồi của tài nguyên lưu trữ; tham gia trong chu trình hiện đại, tái tạo và phục hồi năng lực cung cấp nguồn nước”vv… Tại điều 2 Luật nước của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thông qua tại kỳ họp thứ 24, Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa VI, ngày 21 tháng 1 năm 1998, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1998 quy định: “Tài nguyên nước là nước mặt và nước ngầm”.
Luật nước của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thông qua kỳ họp thứ 29, Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX thông qua ngày 29 tháng 8 năm 2002 về việc sửa đổi bổ sung Luật nước năm 1998, có hiệu lực ngày 1 tháng 10 năm 2002, tại điều 2 quy định: “Tài nguyên nước bao gồm nước mặt và nước ngầm”. Theo đó, nước mặt bao gồm sông ngòi, sông băng, hồ, đầm lầy và các nguồn nước khác; nước ngầm là lượng nước dưới đất dù động hay tĩnh; nước mặt và nước ngầm được chuyển hóa vào nhau, không thể tách rời. Như vậy, khái niệm nguồn nước theo pháp luật Trung Quốc nó đồng nhất với tài nguyên nước, [57, tr. Tài nguyên nước có giá trị trực tiếp cho con người và giá trị tiềm năng của vật chất.
Nguồn tài nguyên nước là hiệu quả tiêu chuẩn đối với hệ thống sinh thái không giới hạn đối với con người. Tuy mang tính vĩnh cửu nhưng trữ lượng hàng năm không phải là vô tận, tức là sức tái tạo của dòng chảy cũng nằm trong một giới hạn nào đó không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Tài nguyên nước được đánh giá bởi ba đặc trưng cơ bản là lượng, chất lượng và động thái của nó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biết rõ các đặc trưng tài nguyên nước sẽ cho chúng ta phương hướng cụ thể trong việc sử dụng, qui hoạch khai thác và bảo vệ nó.
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VỀ NGUỒN NƢỚC ( TÀI NGUYÊN NƢỚC) CỦA TRUNG QUỐC Trung Quốc nằm ở phía đông Châu Á và Châu Âu, chủ yếu do Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương ảnh hưởng đến lưu lượng nước, bình quân hàng năm mưa khoảng 630mm, tổng lượng mưa 6, 2 tỷ mét khối, dòng chảy của các sông quốc gia là 2, 6 nghìn tỷ mét khối, trung bình hàng năm dòng chảy 285mm chiều sâu, nguồn tài nguyên nước của quốc gia 217 nghìn tỷ mét khối, đứng thứ 4 trên thế giới, nhưng mức tiêu thụ trên đầu người chỉ là 2.185 mét khối, chỉ bằng 1/4 mức trung bình trên thế giới. Trung Quốc được liệt kê là một trong 13 quốc gia nghèo về nguồn nước trên thế giới, [61, tr. Ngoài số lượng nước thấp, còn có các tính năng nổi bật khác của tài nguyên nước như: phân phối khu vực và theo mùa là rất không đồng đều. Lượng mưa ở miền Nam nhiều, trong khi đó ở phía Bắc ít, đặc biệt ở các vùng phía Tây lượng mưa thấp không có mưa quanh năm, hạn hán nghiêm trọng ở một số nơi.
Khoảng 80% tài nguyên nước của quốc gia tập trung ở sông Trường Giang và các sông thuộc khu vực phía Nam. Tại thời điểm phân phối, phần lớn ở phía Nam của mùa mưa là tháng ba và tháng sáu, hay tháng tư và tháng bảy, trong đó lượng mưa hàng năm khoảng 50% đến 60%. ở phía Bắc lượng mưa không chỉ ít hơn ở phía Nam mà phân phối cũng không đồng đều, thường là trong tháng sáu và tháng chín lượng mưa đạt 70% đến 80%. Dòng chảy của các con sông trong nhiều năm cũng có sự thay đổi, nhưng các sông ở phía Nam thì đồng đều và ổn định hơn, do đó lượng mưa và dòng chảy trong thời gian và không gian có những thay đổi đầy kịch tính và gây ra lũ lụt hạn hán thường xuyên.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tài nguyên thủy điện ở các con sông của Trung Quốc vẫn còn rất phong phú, tiềm năng tài nguyên thủy điện của cả nước đạt 676.000kw, bằng 1/6 thế giới, công suất lắp đặt đến 378.000kw đứng thứ nhất trên thế giới. Tài nguyên nước của Trung Quốc có các đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, lượng nước bình quân trên đầu người thấp: trung bình hàng năm tài nguyên nước là 2.000 m3, dòng chảy hàng năm 2.000 m3, trung bình hàng năm số lượng tài nguyên nước ngầm là 828. Theo số liệu thống kê năm 2004, thì lượng nước bình quân trên đầu người là 2185 m3. Thứ hai, dòng chảy hàng năm có sự biến đổi lớn: các dòng chảy thay đổi theo thời gian, các sông ở miền Bắc đã xuất hiện những năm mưa liên tiếp và những năm khô liên tiếp.
Ví dụ sông Hoàng Hà cho 11 năm liên tiếp mùa khô (1922 -1932), dòng chảy trung bình năm là 24% ít hơn so với các năm bình thường, và cũng xuất hiện trong 9 năm liên tiếp của thời kỳ ẩm ướt (1943 -1951), dòng chảy trung bình năm là 19% so với năm bình thường. Trong những năm khô hạn liên tiếp là hiện tượng thiên tai, hạn hán lũ lụt gây lên sự bất ổn trong sản xuất nông nghiệp. Lượng mưa hàng năm ở Trung Quốc phân bố không đồng đều. Phía Nam sông Trường Giang vào mùa lũ ( từ tháng 4 -7) cho khoảng 60% tổng dòng chảy hàng năm, lũ lụt ở một số sông phía Bắc Trung Quốc ( từ tháng 6 - 9) lên đến 80% tổng dòng chảy hàng năm.
Thứ ba, Sự phân bố đất đai, dân số, tài nguyên nước không phù hợp với sự phân bố của nền kinh tế. Theo số liệu thông kê năm 1993 thì ở phía Bắc có 5 con sông, số dân là 46, 5% tổng dân số, tổng số đất canh tác 65, 3%, GDP chiếm 45, 2% của cả nước nhưng lượng nước chỉ là 19% tổng số nước quốc gia. Còn ở phía Nam có 4 con sông, dân số 53, 5%, đất canh tác 34, 7%, GDPchiếm 54, 8%, lượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước là 81%. Như vậy miền Bắc lượng nước bình quân đầu người là 1.127 mét khối chỉ bằng 1/3 bình quân đầu người của miên Nam.
Thứ tư, tình hình môi trường nước là nghiệt ngã, hiện nay tình trạng ô nhiễm nguồn nước rất nghiêm trọng, khoảng 1/3 chất thải công nghiệp và 80% nước thải không qua xử lý mà thải trực tiếp ra sông, hồ, môi trường nước đô thị suy thoái tới 90%. Nhìn chung, vấn đề thiếu nước của Trung Quốc là rất nổi bật. Tổng số nước tiêu thụ hàng năm từ 103 tỷ mét khối vào năm 1949 đến 443.000 mét khối vào năm 1980; năm 2004 tăng lên 554.000 mét khối; đến đầu năm 2010 đã tăng lên tới 652.