Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, các cơ quan tiến hành tố tụng trên toàn quốc đã thụ lý, giải quyết hơn 380.000 vụ án hình sự với hàng trăm nghìn đối tượng tham gia tố tụng. Để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và hiện thực hóa nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án, các biện pháp cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước giữ vai trò đặc biệt trọng yếu, trong đó biện pháp áp giải và dẫn giải chiếm tỷ lệ áp dụng ước tính khoảng 14% trong tổng số các hoạt động cưỡng chế tư pháp hình sự. Việc ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) đã đánh dấu bước chuyển biến lập pháp sâu sắc với 2 cụm quy định then chốt tại Điều 4 và Điều 127, mở rộng phạm vi chủ thể bị áp dụng và phân định thẩm quyền trực tiếp cho cán bộ tiến hành tố tụng.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai trong khoảng 5 năm đầu thi hành luật đã nảy sinh nhiều xung đột pháp lý phức tạp. Tình trạng người bị hại từ chối giám định thương tật, đương sự vắng mặt không lý do chính đáng hoặc sự lúng túng khi xử lý người dưới 18 tuổi đã khiến tỷ lệ án bị kéo dài thời hạn giải quyết trong thực tế dao động từ 15% đến 22% tại một số đơn vị địa phương. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (Mã số: 8380104) thực hiện tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giải quyết toàn diện vấn đề này. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực tiễn trên toàn quốc giai đoạn 2016 - 2020, làm sáng tỏ các giá trị lý luận, nhận diện 100% các điểm nghẽn quy phạm và đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp khả thi nhằm giảm thiểu trên 30% thời gian xử lý thủ tục cưỡng chế, nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm và bảo đảm tối đa quyền con người.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng kết hợp 2 lý thuyết học thuật cốt lõi: Lý thuyết cưỡng chế nhà nước trong tố tụng hình sự và Lý thuyết bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng mô hình cân bằng tố tụng giữa hai nhánh kiểm soát tội phạm và bảo đảm thủ tục tư pháp công bằng, nhằm thiết lập giới hạn kiểm soát quyền lực nhà nước khi can thiệp vào quyền tự do thân thể của công dân.

Hệ thống nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm trung tâm:

  • Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự: Công cụ quyền lực do cơ quan có thẩm quyền áp dụng theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
  • Áp giải (điểm k khoản 1 Điều 4 và khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015): Biện pháp buộc người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành tố tụng.
  • Dẫn giải (điểm l khoản 1 Điều 4 và khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015): Biện pháp buộc người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại từ chối giám định hoặc người đại diện pháp nhân thương mại đến địa điểm theo yêu cầu.
  • Trở ngại khách quan và sự kiện bất khả kháng: Căn cứ miễn trừ cưỡng chế được cụ thể hóa theo Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua 4 giai đoạn lịch sử tố tụng (1945 - 1988, 1989 - 2003, 2004 - 2017 và 2018 đến nay), cùng 12 văn bản chuyên ngành gồm Bộ luật Hình sự 2015, Luật Thi hành án hình sự 2019, Thông tư số 47/2020/TT-BCA và Thông tư số 61/2017/TT-BCA của Bộ Công an.

Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 420 hồ sơ vụ án hình sự có áp dụng biện pháp cưỡng chế và 85 báo cáo tổng kết thực tiễn tư pháp từ các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện và cấp tỉnh trên cả nước. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích tại 3 khu vực kinh tế - xã hội trọng điểm (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) nhằm phản ánh tính bao quát của các nhóm tội phạm phổ biến như cố ý gây thương tích, giao thông và xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

Phương pháp phân tích luật viết được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo để giải mã cấu trúc câu chữ quy phạm, kết hợp phương pháp so sánh luật học và thống kê xã hội học pháp luật. Quá trình này giúp phát hiện chính xác các mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp và đánh giá tác động thực tế của quy định trong giai đoạn chuẩn bị từ năm 2020 đến khi hoàn thiện vào năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện căn bản trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự:

  • Thứ nhất, việc trao thẩm quyền trực tiếp cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán chủ tọa tại khoản 3 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã rút ngắn khoảng 35% thời gian ban hành quyết định so với cơ chế phê chuẩn hành chính gián tiếp trước năm 2018. Tuy nhiên, khâu phối hợp tổ chức thi hành với lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp còn xảy ra độ trễ, với khoảng 18% trường hợp quyết định thi hành bị chậm trễ quá 24 giờ.
  • Thứ hai, quy định dẫn giải người bị hại từ chối giám định theo điểm b khoản 2 Điều 127 phát sinh xung đột nghiêm trọng trên thực tế. Khoảng 42% vụ việc người bị hại cố tình lẩn tránh hoặc chống đối, dẫn đến khoảng 28% hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm cố ý gây thương tích bị quá hạn luật định 4 tháng do cơ quan giám định không thể kết luận thương tật trên hồ sơ bệnh án đơn thuần.
  • Thứ ba, quy định áp dụng áp giải đối với người dưới 18 tuổi chỉ khi "thật cần thiết" tại khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thiếu vắng tiêu chí định lượng rõ ràng, khiến hơn 60% cán bộ tố tụng tại cơ sở lúng túng khi thực hiện, dẫn đến tỷ lệ áp dụng không đồng đều giữa các địa phương.
  • Thứ tư, quy định cấm bắt đầu áp giải, dẫn giải vào ban đêm (từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau) theo khoản 6 Điều 127 mang tính tuyệt đối, tạo kẽ hở cho khoảng 25% đối tượng lợi dụng thời điểm đêm tối để trốn tránh triệu tập hoặc di chuyển sang địa bàn khác.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các vướng mắc xuất phát từ sự thiếu đồng bộ về kỹ thuật lập pháp giữa Điều 4, Điều 126 và Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với Luật Thi hành án hình sự năm 2019, tạo ra sự nhầm lẫn về mục đích áp giải trong tố tụng và áp giải chấp hành án phạt tù.

Dữ liệu thực trạng có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cơ cấu các vướng mắc thực tiễn, trong đó trở ngại về dẫn giải người bị hại chiếm 42%, vướng mắc áp dụng với người chưa thành niên chiếm 33%, và rào cản thời gian thi hành ban đêm chiếm 25%. Đồng thời, việc tổng hợp bảng đối chiếu thẩm quyền cho thấy Điều tra viên và Cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có phạm vi quyền hạn tương đồng ở giai đoạn tiền khởi tố và điều tra ban đầu, nhưng còn thiếu cơ chế cưỡng chế trực tiếp khi đối tượng có hành vi lẩn tránh.

So sánh với các thời kỳ trước, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tiến bộ vượt bậc khi tăng diện chủ thể chịu cưỡng chế lên gấp 2 lần, bổ sung người bị tố giác và đại diện pháp nhân thương mại. Tuy vậy, việc thiếu hướng dẫn cụ thể về mức độ sử dụng vũ lực và công cụ hỗ trợ theo Thông tư số 47/2020/TT-BCA đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế thực thi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các rào cản thực tiễn, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Sửa đổi, hoàn thiện quy định pháp luật: Quốc hội xem xét sửa đổi khoản 1 Điều 126 và Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng phân định rạch ròi mục đích cưỡng chế tố tụng với hoạt động thi hành án phạt tù, đặt mục tiêu hoàn thành trước năm 2026 nhằm xử lý 100% tình trạng chồng chéo với Luật Thi hành án hình sự.
  • Ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng: Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch trong giai đoạn 2024 - 2025 nhằm giải thích tiêu chí "trường hợp thật cần thiết" đối với người dưới 18 tuổi và quy định chế tài xử lý người bị hại từ chối giám định vô căn cứ, kỳ vọng giảm 50% sai sót nghiệp vụ tại cấp cơ sở.
  • Chuẩn hóa quy trình phối hợp liên ngành: Bộ Công an chỉ đạo Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng triển khai áp dụng quy trình tác chiến mẫu theo Thông tư số 47/2020/TT-BCA, rút ngắn thời gian chuẩn bị phương án áp giải trực tuyến xuống dưới 2 giờ đối với vụ việc khẩn cấp và nâng tỷ lệ thi hành lệnh đúng hạn lên trên 95% vào năm 2025.
  • Tăng cường bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ: Các cơ sở đào tạo tư pháp (Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện Tòa án, Trường Đại học Kiểm sát) đưa nội dung kỹ năng áp giải, dẫn giải và ứng phó tình huống chống đối vào chương trình bồi dưỡng bắt buộc định kỳ 1 năm một lần cho 100% Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp): Nắm vững căn cứ pháp lý, thẩm quyền và biểu mẫu nghiệp vụ theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA để ban hành quyết định chính xác, phòng ngừa khiếu nại, tố cáo về xâm phạm quyền tự do công dân.
  • Giảng viên và học viên ngành luật: Tiếp cận hệ thống lý luận hoàn chỉnh, chuỗi số liệu thực tiễn 2016 - 2020 và phương pháp tiếp cận luật viết mẫu mực, phục vụ công tác giảng dạy các học phần Luật Tố tụng hình sự và Khoa học điều tra hình sự.
  • Luật sư và người bào chữa: Khai thác các phân tích về giới hạn quyền lực nhà nước, quy định về giờ cấm thi hành và tiêu chí bảo vệ người dưới 18 tuổi để giám sát hoạt động tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ hiệu quả.
  • Cơ quan lập pháp và chuyên viên soạn thảo chính sách: Sử dụng toàn bộ luận cứ khoa học và bảng tổng kết thực tiễn để phục vụ hoạt động rà soát, đánh giá tác động chính sách khi xây dựng dự án sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Áp giải và dẫn giải khác nhau như thế nào theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015? Áp giải áp dụng với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo mang tính cưỡng chế nghiêm ngặt hơn. Dẫn giải áp dụng với người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại từ chối giám định và đại diện pháp nhân nhằm đưa họ đến địa điểm làm việc theo lệnh triệu tập.

Cơ quan có thẩm quyền có được bắt đầu áp giải, dẫn giải vào ban đêm không? Theo khoản 6 Điều 127 và Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan chức năng tuyệt đối không được bắt đầu áp giải, dẫn giải người vào ban đêm từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau, trừ trường hợp bất khả kháng phải ghi rõ vào biên bản tố tụng.

Trường hợp người bị hại cố tình từ chối giám định thương tật thì cơ quan điều tra giải quyết ra sao? Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nếu người bị hại từ chối giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Điều tra viên có quyền ra quyết định dẫn giải để đưa họ đến cơ quan giám định có thẩm quyền.

Điều kiện áp dụng biện pháp áp giải đối với người dưới 18 tuổi được quy định như thế nào? Theo khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết khi họ cố tình trốn tránh, có hành vi cản trở hoạt động điều tra và không còn biện pháp ngăn chặn nào khác thay thế.

Kiểm sát viên có quyền tự mình ra quyết định áp giải, dẫn giải hay không? Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 42 và khoản 3 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Kiểm sát viên được trao quyền độc lập ra quyết định áp giải người bị bắt, bị can và quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, bị hại trong giai đoạn truy tố.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về biện pháp áp giải và dẫn giải, định vị rõ vai trò công cụ bảo đảm hoạt động tư pháp trong nhà nước pháp quyền.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các khoảng trống pháp lý tại Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đặc biệt là cơ chế xử lý bị hại từ chối giám định và người dưới 18 tuổi.
  • Đánh giá thực tiễn áp dụng giai đoạn 2016 - 2020 trên quy mô toàn quốc, lượng hóa các nguyên nhân dẫn đến tình trạng kéo dài thời hạn tố tụng.
  • Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp liên hoàn gồm sửa đổi luật, ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn và nâng cấp quy trình tác chiến hỗ trợ tư pháp.
  • Lộ trình hoàn thiện chính sách đề xuất triển khai từ năm 2024 đến năm 2026, kêu gọi các cơ quan tư pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuẩn hóa nghiệp vụ cưỡng chế tố tụng.