CHƯƠNG 1. NHUNG VAN DE LY LUẬN VỀ ÁP DUNG VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT CONG BANG, NHAT QUAN 1. Khái niệm áp dung văn bản quy phạm pháp luật công bằng, nhất quán 1. Định nghĩa áp dụng văn bản quy phạm pháp luật công bằng, nhất quán Pháp luật được coi là công cụ đặc biệt dé điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật công bằng, nhất quán là một mục tiêu trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuy nhiên, chưa có bat kỳ văn bản nao dua ra một khái niệm cu thê về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật công bằng, nhất quán trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay. Để làm rõ khái niệm nay, chúng ta can phải làm rõ các khái niệm thành phần trong đó như: “Văn bản quy phạm pháp luật”, “Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật”, “công bằng” và “nhất quán”. Tuy nhiên, do luận văn thạc sĩ chỉ tập trung vào tính công bằng, tính nhất quán của hoạt động áp dụng VBQPPL nên các khái niệm khác liên quan tác gia chỉ kế thừa chứ không tập trung phân tích mà chi đi sâu vào phân tích các van dé liên quan đến áp dụng pháp luật công bằng, nhất quán. - Quan niệm về văn ban quy phạm pháp luật VBQPPL vừa là nguồn, vừa là hình thức pháp luật quan trọng bậc nhất ở hau hết các quốc gia.
Đây là hình thức pháp luật co nhiều ưu thé nỗi trội nhất ma tập quán pháp và tiền lệ pháp (án lệ) không có được. Trường đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm như sau: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn ban do các chủ thé có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, trong do có chứa dung các quy tắc xử sự chung dé điều chỉnh các mỗi quan hệ xã hội "°. Trên thực tế ở Việt Nam, Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 định nghĩa: “Van bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyên, hình thức, thủ tục quy định trong Luật nay”. - Quan niệm về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật 3 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Li luận chung về Nhà nước và pháp luận, 2022, tr.390 9 Các VBQPPL sau khi được ban hành và có hiệu lực đòi hỏi các chủ thé phải thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Tuy nhiên, vẫn còn tổn tại nhiều trường hợp thực hiện không đúng hoặc không thực hiện các quy định pháp luật gây ảnh hưởng đến sự vận động của đời sống xã hội. Để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách đúng đắn, cần phải có sự can thiệp của các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyển hay còn gọi là hoạt động áp dụng pháp luật. Như đã phân tích ở trên, VBQPPL là hình thức của pháp luật, nên việc áp dụng VBQPPL là hình thức của hoạt động áp dụng pháp luật. Theo định nghĩa trong giáo trình Lý luận chung về nha nước và pháp luật — Trường đại học Luật Hà Nội: “Ap dung pháp luật là hoạt động do các chủ thé có thâm quyên nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật thành quyên, nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể, đổi với các cá nhân, tô chức trong các trường hợp cụ thể „ạ Từ định nghĩa trên, có thé đưa ra định nghĩa về Ap dung VBOPPL như sau: Ap dụng VBOPPL là hoạt động của các chủ thé có thẩm quyên nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thành quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các cá nhân, tổ chức trong các trường hop cụ thé.
- Quan niệm về Công bằng Công bằng là một phạm trù tổn tại trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau trong đời sống xã hộ bao gồm triết học, chính trị, pháp lý. Day là một hiện tượng xã hội có ý nghĩa khách quan hướng tới tư duy, nhận thức và hành động của toàn xã hội noi chung và của co quan nhà nước có thâm quyền nói riêng. Nhìn chung, sự công bằng là tiêu chí đề đánh giá sự tồn tại, phát triển của cộng đồng, của toàn xã hội loài người và đã trở thành giá trị của nhân loại. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Nhà nước bảo dam và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhậu, tôn trọng, bảo vệ và bảo dam quyền con người, quyền cong dán; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, moi người có cuộc sống dm no, tự do, hạnh phúc, có diéu kiện phát triển toàn điện ”.
Theo đó, công 4 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, 2022, tr. 406 10 bằng trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyén đã trở thành mục tiêu, cái đích đến của mọi hoạt động. Trong đời sông xã hội công bằng dùng dé chi “sy trong quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và hoa, lợi và hại giữa người với người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của những cá nhân (những giải cáp) với địa vị của họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyên với nghĩa vụ.
Không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất công”Š. Một cách tiếp cận khác thì công bằng là “sự bình đẳng về quyén lợi và nghĩa vụ của con người trong mọi quan hệ xã hội và thiết chế xã hội; mà cốt lõi là sự bình đẳng về thông tin, kinh tế, chính trị và pháp luật”S. Có một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Cong bằng là một tình trạng mà trong đó tắt cả mọi người trong một xã hội hay một nhóm cu thể nào đó có địa vị, tình trạng pháp lý tương tự như nhau ở những khía cạnh nhất định, thường bao gom các quyên dân sự, tự do ngôn luận, quyên sở hữu và tiếp cận bình đẳng đối với hàng hóa và dịch vụ xã hội. Tuy nhiên, nó cũng bao gồm các khái niệm về công bằng sức khỏe, bình đẳng kinh tế và các an toàn xã hội khác.
Nó cũng bao gồm các cơ hội và nghĩa vụ ngang nhau, và do đó liên quan đến toàn bộ xã hội”. Theo quan điểm của PGS. Phan Thị Hà Dương có nêu ra trong bài viết “công bằng là xét đến yếu tổ khác biệt, người yếu thé hơn sẽ được tạo điều kiện tốt hơn dé có được cơ hội như người mạnh hơn. Người thấp sẽ được cho chiếc ghế cao dé quan sát được như người cao hơn ”Š.
Công bằng chỉ được xác định trên phương diện xã hội của các ngành khoa học. Khi đó, công bằng xã hội là một gia trị cơ bản định hướng cho việc giai quyết hài hoà quan hệ giữa người với người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: công hiến vé vật chất và tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng thụ ngang nhau về những giá tri vật chất, tinh than do xã hội tao 5 Trung tâm biên soạn tir điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Ha Nội 1995, tr. 6 Trường đại học kinh tế quốc dân “Quản ly xã hội” Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 2006, tr. vn/cong-bang-va-y-nghia-cua-bao-dam -nguyen-tac-cong-bang-trong-to-tung-hanh-chinh Š https://vnexpress.net/cong-bang-hay-binh-dang-4579978 html 11 ra, tuy nhiên nó phải phù hợp với điều kiện và khả năng cung ứng của mỗi quốc gia ở mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển cụ thể.
- Quan niệm về Nhất quán Nhất quán là khái niệm dùng đề chỉ sự hài hòa, hòa hợp, thống nhất với nhau giữa các bộ phận, thành phan, cá thé, cá nhân. trong cùng một hệ thống, một tập thé, một bộ máy tô chức. Sự thống nhất này diễn ra một cách tự nhiên và hoàn toàn không xảy ra bất kỳ mâu thuẫn nào trong việc vận hành, hoạt động của toàn bộ hệ thống. Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hảnh động hay dẫn đến sự thành công.
Nhờ có nhất quán, các cá nhân, tổ chức hay hệ thống sẽ giảm thiêu được rất nhiều thời gian, công sức, tiền của mỗi khi triển khai công việc, thực hiện kế hoạch, mục tiêu đã đặt ra trước đó. Tuy nhiên, dé phát huy đúng giá trị của sự nhất quán thì cần phải hiểu thuật ngữ nay theo hướng tích cực, hướng đến các mục tiêu, mục đích đúng đắn, phát triển. Theo Wikitionary có đưa ra định nghĩa: “Nhất quán là có tính thống nhất từ dau đến cuối, trước sau không mâu thuẫn, trái ngược nhau ”9. Theo từ điển Webster , nhất quán được định nghĩa như sau: “ Do chính là sự thống nhất hay hài hoà giữa các bộ phận hay đặc tính trong cùng một tập hợp: sự phù hợp, đặc biệt là : khả năng tự danh gia mà không tao ra mâu thudn.”TM Như vậy, từ các định nghĩa thành phân nêu trên, có thé đưa ra khái niệm về Ap dụng VBOPPL công bằng, nhất quán như sau: Ap dung VBOPPL công bằng, nhất quán là hoạt động áp dụng quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nhằm giải quyết các trường hop cụ thé của các chủ thé có thẩm quyên bao dam tính công bằng xã hội, sự hài hòa giữa quan hệ người với người trong đời sống xã hội và bao dam tinh thông nhất trong toàn bộ quá trình hoạt động này.
Dặc điểm của áp dụng văn bản quy phạm pháp luật công bằng, nhất quán 9 https://vi-wiktionary.org/wiki/nh%E1%BA%ASt_qu%C3%A In#:~:text=C%C3%B3%20t%C3%ADnh%20th”% E1%BB%9 Ing%20nh%E1%BA%AS5t%20t%E 1%BB%AB,m%C3%A2u%20thu%E1%~BA%ABN%2C%20tr% C3%A11%20ng%C6%B0%E1%°BB%A3c%20nhau.vn/vi/talentcommunity/hay-nhat-quan-kien-dinh.html 12 Thứ nhát, áp dụng VBOPPL công bằng, nhất quan là hoạt động mang tinh quyền lực nhà nước Toản bộ hoạt động áp dụng VBQPPL do các co quan nhà nước, tô chức hay cá nhân có thâm quyên tiến hành được quy định cụ thê trong pháp luật. Các co quan có thâm quyền áp dụng VBQPPL đều nhân danh nhà nước dé thực hiện nên hoạt động nay thê hiện ý chi nhà nước trong các trường hợp, vụ việc cụ thể. Tuy nhiên, cũng cần có cơ chế dé kiểm soát quyển lực đặc biệt tránh tình trạng lạm quyên gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các cá nhân khác. Cụ thé, các cá nhân, cơ quan, tô chức có thẳm quyền áp dụng VBQPPL về nguyên tắc chỉ được và phải thực hiện những gì mà pháp luật không cấm một cách thống nhất, công tâm nhằm bảo đảm công bằng xã hội.