CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Thuật ngữ “bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên xuất hiện và được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 (Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)3. Sau đó thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một số đạo luật, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai và được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nhanh chóng chấp nhận thuật ngữ “bảo hiểm xã hội”, đây chính là mốc quan trọng ghi nhận giá trị và sự tồn tại của thuật ngữ này, một thuật ngữ diễn đạt đơn giản nhưng phản ánh được nguyện vọng sâu sắc nhất của nhân dân lao động trên toàn thế giới.
Trên thế giới, thuật ngữ “bảo hiểm xã hội” được hiểu không giống nhau giữa các nước về mức độ phạm vi rộng hẹp của nó. Tuy vậy, về cơ bản thì thuật ngữ này được hiểu với nghĩa là sự bảo đảm an toàn của xã hội đối với thành viên của nó thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải tỏa những lo âu về kinh tế và xã hội cho thành viên. Nói cách khác, nó góp phần khắc phục sự suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập của các thành viên trong xã hội và gia đình do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và thất nghiệp; đồng thời cung cấp về dịch vụ y tế, trợ cấp gia đình có con nhỏ4. Trong Luật BHXH, bảo hiểm xã hội được định nghĩa là “sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Khoản 1, Điều 3, Luật BHXH số 58/2014/QH13).
BHXH còn được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác: 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935 của Hoa Kỳ (the Social Security Act of 1935) chỉ bao gồm bốn chế độ bảo hiểm là chế độ hưu trí, tử tuất, mất khả năng lao động và thất nghiệp. 4 Có thể xem được tại: http://www.vn/cac-khai-niem-ve-bao-hiem-xa-hoi/ [truy cập ngày 08/11/2019]. 10 Dưới góc độ kinh tế, BHXH là một phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự bù đắp và thay thế một phần thu nhập nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH của cộng đồng những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật (Nguyễn Văn Định, 2012, tr. Trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trong sản xuất lao động thì con người luôn gặp phải những khó khăn, rủi ro như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, mất việc làm, thất nghiệp.
Do đó, để ổn định cuộc sống NLĐ phải tìm các giải pháp đảm bảo thu nhập cho chính mình trong những trưởng hợp rủi ro nói trên. Dưới góc độ xã hội, BHXH là một chính sách nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội.Khi NLĐ gặp phải rủi ro trong cuộc sống thì những nhu cầu được đặt ra như khắc phục khó khăn về kinh tế, chữa bệnh an dưỡng tuổi già…Vì vậy, Nhà nước cần thiết phải có những giải pháp để giải quyết những vấn đề phát sinh xảy ra đối với NLĐ, nhằm giúp NLĐ vượt qua khó khăn, ổn định đời sống; đồng thời cũng là giải pháp nhằm ổn định xã hội. Khi đó, vai trò của BHXH được thể hiện rõ nét, bù đắp thu nhập cho NLĐ, giữ vững nền sản xuất, đảm bảo ổn định xã hội. Như vậy, dưới góc độ xã hội, chúng ta có thể thấy BHXH là một bộ phận trong nội dung của hệ thống bảo đảm xã hội “bảo đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngưng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và việc trợ cấp cho các gia đình đông con” (Trường Đại học Lao động - xã hội, 2010, tr.
Dưới góc độ pháp luật, BHXH là tổng hợp các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ NLĐ; sử dụng nguồn đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm (hoặc gia đình của họ) trong trường hợp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết. Như vậy, về phương diện pháp lý, BHXH là tổng thể các quy định của Nhà nước quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên khi tham gia vào quan hệ 11 BHXH; mức đóng góp, phương thức đóng góp và mức hưởng đối với những đối tượng áp dụng BHXH…Trên cơ sở các quy định pháp luật, các bên tham gia phải tuân thủ (TS. Mạc Tiến Anh, tạp chí BHXH số 04/2005). Dù tiếp cận dưới góc độ nào thì mục tiêu chính của BHXH cũng được thể hiện rõ, nhằm bảo vệ NLĐ trước những biến cố cuộc sống và được bảo vệ bằng hệ thống chính sách.
Như vậy, có thể thấy BHXH chính là dạng trợ cấp nhằm bảo đảm thu nhập cho NLĐ nên bảo hiểm y tế được tách ra không thuộc khái niệm BHXH. Khái niệm về BHXH nước ta thể hiện rõ mục đích phi thương mại và có sự bảo hộ của nhà nước thông qua quá trình đóng góp và quản lý quỹ BHXH, thông qua đó Nhà nước bảo hộ các hoạt động của quỹ BHXH và nhằm mục đích bảo đảm an toàn xã hội và tạo động lực hữu hiệu để phát triển kinh tế. Tuy có sự định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, nhưng xét về nội dung các khái niệm trên đều bao hàm những nội dung cơ bản của BHXH là sự bù đắp thu nhập cho NLĐ và trong một số trường hợp còn là gia đình của họ trong những trường hợp nhất định mà dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập và dựa trên cơ sở có sự đóng góp vào quỹ BHXH. Chức năng của bảo hiểm xã hội Mục tiêu của hoạt động BHXH nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, đảm bảo các khoản trợ cấp tối thiểu cho NLĐ khi họ gặp những rủi ro.
Chức năng của BHXH được xác định bởi chức năng chung của BHXH kết hợp với tính xã hội cao của nó tạo thành. BHXH có bốn chức năng chính như sau: Thứ nhất, bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất môt phần thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm theo những điều kiện xác định (Nguyễn Văn Định, 2012, tr. 30) Đối tượng được bảo hộ là thu nhập của NLĐ, khi NLĐ và gia đình của họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già thì BHXH bù 12 đắp các khoản thu nhập bị thiếu hụt thông qua việc thực hiện chi trả trợ cấp đối với NLĐ (hay gia đình của họ) thay cho phần thu nhập bị giảm (mất). Chức năng này của BHXH được thực hiện khi NLĐ rơi vào những trường hợp khó khăn và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật BHXH.
Chức năng của BHXH được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa NLĐ - NSDLĐ; giữa cơ quan BHXH – NSDLĐ, đó là quan hệ ba bên có sự đóng góp của các bên; khi sự kiện pháp lý xảy ra đối với NLĐ, họ sẽ được trợ cấp theo quy định. Đây thực sự là chức năng thiết thực đối với NLĐ, có sức thuyết phục NLĐ tham gia mạng lưới BHXH. Thứ hai, phân phối lại thu nhập giữa người tham gia bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH được hình thành bởi sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và hỗ trợ một phần từ phía Nhà nước. NLĐ tham gia đóng BHXH được hưởng bảo hiểm khi có đủ điều kiện theo pháp luật quy định.
Như vậy, NLĐ đóng góp vào quỹ BHXH không chỉ để đảm bảo quyền lợi cho họ mà còn cho NLĐ khác không may găp rủi ro. Như vậy, BHXH đã thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều ngang và chiều dọc. Sự phân phối này được thực hiện giữa NLĐ may mắn, ít gặp rủi ro cho những người không may mắn; giữa người khỏe mạnh đang làm việc cho người ốm đau phải nghỉ việc và rộng hơn là giữa số đông người đóng góp vào quỹ BHXH với số ít những người hưởng chế độ trợ cấp theo chế độ xác định. Chức năng này được thể hiện rõ qua hoạt động thu chi của quỹ BHXH.
Thứ ba, góp phần nâng cao năng suất lao động Khi tham gia vào thị trường lao động, NLĐ luôn mong muốn công sức mà họ bỏ ra phải được đền đáp xứng đáng, tức là tiền lương, tiền công mà họ nhận được phải tương đương với sức lao động mà họ bỏ ra. Ngoài ra, khi họ gặp phải những rủi ro dẫn đến nguồn thu nhập bị giảm, bị mất khiến đời sống khó khăn, họ càng cần một cơ chế nhằm giúp đỡ họ ổn định, vượt qua khó khăn này. Trên thực tế, chỉ có BHXH mới có thể đáp ứng và thực hiện tốt được chức năng này, có BHXH đời sống của NLĐ và gia đình họ luôn được đảm bảo, ổn định yên tâm, gắn bó cùng công việc, tạo động lực cho họ hăng say lao động và cống hiến. 13 Đối với NSDLĐ, khi đội ngũ lao động yên tâm làm việc, cống hiến hết mình cho công việc họ sẽ yên tâm hơn khi đầu tư nâng cao chất lượng máy móc, nâng cao năng suất lao động; qua đó NSDLĐ cũng dự toán cân đối được các nguồn thu chi nhằm phát triển doanh nghiệp, đó chính là chức năng đòn bẩy kinh tế phát triển.
Thứ tư, phát huy tiềm năng và gắn bó lợi ích “Quỹ BHXH được hình thành bởi sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước, thông qua hoạt động của quỹ, một nguồn vốn nhàn rỗi sẽ được đưa vào đầu tư mang lại lợi nhuận, tăng thêm nguồn thu cho quỹ” (Trường kinh tế quốc dân, 2012, tr 58). Với hình thức đóng góp và phát triển quỹ BHXH như vậy, BHXH hoàn toàn có thể giúp NLĐ vượt qua những khó khăn khi gặp phải rủi ro góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ.