CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN • VÈ ÁP DỤNG • PHÁP LUẬT • TRONG ĐIỀU TRA TỘI PHẠM XÂM PHẠM TRẬT TỤ XÃ HỘI DO NGUỜI CHU A THÀNH NIÊN THỤC HIỆN 1. Khái quát vê tội phạm xâm phạm trật tự xã hội do người chưa thành niên thực hiện 1. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 đã đưa ra định nghĩa về “trẻ em” tại Điều 1 như sau: "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuối thành niên sớm hơn".
Ngoài Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990, Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc ADPL đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.1992 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm "NCTN là người dưới 18 tuổi". Văn bản này như là một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em năm 1990. Quy tắc Riát về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN được Liên Họp Quốc thông qua ngày 14/12/1990 mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể về “NCTN”, song thông qua các quy định cũng gián tiếp đưa ra cách hiểu rằng NCTN là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, dưới sự phát triển khác nhau nên khái niệm NCTN ở các quốc gia cũng có nhiều điểm khác biệt.
Bên cạnh việc đưa ra khái niệm “NCTN” thì Công ước về Quyền trẻ em vần còn những điều khoán để ngở cho các nước quy định về độ tuổi cho NCTN, thậm chí ngay trong các văn bản pháp luật quốc gia cũng quy định không thống nhất về vấn đề này. Còn đối với các văn bản pháp luật trong nước, khái niệm “NCTN” được quy định như sau: 9 Vê thuật ngữ, các văn bản pháp luật sau đây quy định vê các khái niệm liên quan tới NCTN như sau: - BLHS (BLHS) 2015 (Điều 90), quy định: "Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này’’ [19]. - Luật Trẻ em 2016 (Điều 1),quy định: “Trẻ em làngườidưới 16tuổi’’\22}. - Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 (Điều 21), quy định: “NCTN là người chưa đủ mười tám tuổi.
” [17] Theo quy định tại các luật nêu trên đối với NCTN, có ba thuật ngữ: “NCTN” là thuật ngữ chung, mang yếu tố định tính nhiều hơn; còn hai thuật nữ “thanh niên” và “trẻ em” là khái niệm cụ thể, mang yếu tố định lượng nhiều hơn. Nói chung, các khái niệm này là không thể đồng nhất, nhưng chúng có mối liên hệ gần gũi và tương quan với nhau. Việc định lượng trong các khái niệm không chì đơn thuần mô tả, đánh dấu tiến trình phát triển thể chất, tâm sinh lý của các độ tuồi chưa thành niên mà nó còn thể hiện việc đánh giá của pháp luật về sự tương quan giữa các độ tuổi nhằm đề ra chính sách chung trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ và giáo dục đối với NCTN. Đồng thời, trong lĩnh vực quản lý, xử lý vi phạm, tội phạm, đó cũng là cơ sở đánh giá mức độ nguy hiểm và mức độ xâm hại các khách thể xã hội của hành vi vi phạm pháp luật ở các độ tuổi.
về độ tuổi, theo quy định tại các luật, đối với NCTN có các cấp độ tuổi: “dưới 16 tuổi”, “dưới 18 tuổi”, “chưa đủ 18 tuổi”. Các văn bản pháp luật trên đều quy định độ tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi. NCTN cũng được quy định riêng những chế định pháp luật trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thế. Như vậy, thông qua các văn bản pháp luật trên có thể thống nhất NCTN là người dưới 18 tuổi.
Quan điểm của các văn bản pháp luật này cũng hoàn toàn 10 phù hợp với Công ước quôc tê vê quyên trẻ em ngày 20/02/1990 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Việc xác định khái niệm NCTN sẽ là căn cứ quan trọng để ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với bị cáo nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho NCTN. Đặc điểm người chưa thành niên Căn cứ theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, “NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thê lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân ”. Theo đó, họ có những đặc điểm riêng về tâm lý.
Đó là trạng thái cảm xúc; nhận thức pháp luật; nhu cầu độc lập; nhu cầu khám phá cái mới. Thứ nhất, về mặt trạng thái cảm xúc, các mặt về sinh lí, tâm lý và ý thức cùa NCTN đều đang trong quá trình phát triển. Đây là giai đoạn mà sự phát triển cơ thể và tình trạng cảm xúc đều mất cân bằng. Trên thực tế, trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc mất cân bằng có thể là yếu tố gây nên các hành vi sai lệch.
Vì vậy, giai đoạn này NCTN dễ có những quyết định, hành vi mang tính bột phát mà không lường trước hậu quả. Nhiều trường hợp chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhưng không kiềm chế được sự nóng giận quá khích mà NCTN đã phạm phải hành động sai lầm, thậm chí là thực hiện hành vi phạm tội. Thứ hai, về mặt nhận thức pháp luật, lứa tuổi chưa thành niên là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về mặt sinh học nhưng lại thiếu cân đối về mặt trí tuệ. Đây có thế được xem là lứa tuối mà ít ỏi kinh nghiệm sống, đặc biệt khả năng nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế.
Một phần lớn NCTN thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá nhân mà không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Các em chỉ hiểu rằng hành vi của mình làm phạm tội sau khi được giải thích, phân tích. Thứ ba, về mặt nhu cầu độc lập. Nhu cầu độc lập có thể hiểu là việc cá 11 nhân tự hành động và tự ra quyêt định theo ý kiên riêng mà không muôn bị ảnh hưởng bởi người khác.
Bên cạnh mặt tích cực của nhu cầu độc lập thì còn tồn tại mặt tiêu cự khi nhu cầu này bị phát triển theo hướng thái quá. Đặc biệt, ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới các dạng hành vi như phô trưcmg, gây gổ, dễ tự ái, ngang bướng, cố chấp. Tất cả những hành vi này của NCTN đều mang tính chất của hành vi lệch chuẩn, dễ dẫn tới các hành vi phạm tội. Thứ tư, về mặt nhu cầu khám phá cái mới.
Tìm hiểu, khám phá cái mới là một trong những nhu cầu của NCTN. Tuy vậy, sự tò mò và khám phá cái mới cũng có thể trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em, nếu thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của gia đình, xã hội, không tự chủ được bản thân và không phân biệt được phải trái. Khái niệm về tội phạm xâm phạm trật tự xã hội • tit I t •• • BLHS không sử dụng thuật ngữ “tội phạm xâm phạm TTXH”, trong khi đó có rất ít công trình khoa học đề cập đến thuật ngừ này. Do đó, có nhiều cách phân loại khác nhau về “tội phạm xâm phạm TTXH” xuất phát từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
Một tác giả quan niệm các tội xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hai nhóm quan hệ xã hội cùng loại liên hệ chặt chẽ với nhau và có những đặc điểm chung: các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ATCC và TTCC Hay quan điểm khác cho rằng, các tội xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lồi, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn, TTCC trong các lĩnh vực giao thông vận tải, phòng cháy chữa cháy, tin học, lao động sản xuất, quản lý vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, và trong những lĩnh vực khách của TTXH gây nên những thiệt hại về tính mạng, tồn hại đến sức khỏe, tài sản của Nhà nước và của công dân 12 Mặt khác, một quan điêm cho răng các tội xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến ATCC, TTCC gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của nhân dân, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và của cá nhân Cuối cùng, một quan điểm khác lại xác định các tội xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lồi, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về ATCC, TTCC, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, cùa tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường ờ những nơi công cộng. Vì vậy, theo quan điềm của tác giả, TTXH là khái niệm chỉ sự hoạt động ốn định hài hòa của các thành phần xã hội trong cơ cấu xã hội; nhằm duy trì sự phát triển xã hội và cơ chế bảo đảm tính TTXH là các thiết chế xã hội. TTXH biểu hiện tính tổ chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực của các hành động xã hội. Hệ thống xã hội đạt được sự ốn định, cho phép nó hoạt động một cách có hiệu quả dưới sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài nhờ TTXH.
Nói đến trật tự an toàn xã hội là nói đến tình trạng (trạng thái) bình yên, ổn định, có trật tự, kỷ cương của xã hội. Trạng thái đó được xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (những quy phạm pháp luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức truyền thống được mọi người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ. Theo đó, tội phạm xâm phạm TTXH là tội phạm xâm phạm đến hoạt động ổn định hài hoà của các thành phần xã hội trong cơ cấu xã hội, xâm phạm tính tố chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực của các hành động trong đời sống xã hội, sự mất ồn định trong đời sống trong hệ thống xã hội. Những hành vi có tính chất như trên được quy định trong pháp luật là tội phạm.