lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tiền lƣơng và hình thức trả lƣơng trong doanh nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng hình thức trả lƣơng cho vị trí nhân viên chăm sóc khách hàng tại Tập đoàn Hoa Sao. - Chƣơng 3: Khuyến nghị áp dụng hình thức trả lƣơng theo đơn vị dịch vụ ở vị trí nhân viên sóc khách hàng tại Tập đoàn Hoa Sao. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ HÌNH THỨC TRẢ LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Lý luận chung về tiền lƣơng trong doanh nghiệp. Khái niệm về tiền lương. Trƣớc hết tiền lƣơng là một phạm trù kinh tế xã hội xuất hiện đồng thời với quan hệ thuê và sử dụng lao động. Thật vậy trong mối quan hệ này ngƣời có SLĐ thì không thể tự tổ chức quá trình lao động, còn ngƣời sử dụng SLĐ thì không thể sở hữu SLĐ.
Vì vậy đã hình thành nên quan hệ mua-bán SLĐ hay quan hệ cung-cầu. Ở các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế tiền lƣơng đƣợc hiểu nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ: Trong nền kinh tế kế hoạch hóa dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tƣ liệu sản xuất và kinh tế nhà nƣớc chiếm ƣu thế tuyệt đối, hoạt động quản lý lao động và tiền lƣơng cơ bản bị chi phối bởi tính phân phối theo kế hoạch hóa của cơ chế quản lý. Quan niệm tiền lƣơng trong mô hình này đƣợc quan niệm là “Là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân, viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động mà của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức, dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động” [11,Tr205].
Khái niệm này hàm nghĩa tiền công, tiền lƣơng đƣợc thiết kế trƣớc khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc dự kiến theo kế hoạch, ngân sách nhà nƣớc. Trong mô hình kinh tế này tiền lƣơng không phải là sức lao động, vì vậy tiền lƣơng trả không đúng theo giá trị của sức lao động, không phải ngang giá theo quan hệ cung - cầu, mà phân phối theo chế độ bình quân chủ nghĩa, không khích thích đƣợc ngƣời lao động, nền kinh tế phát triển. Khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trƣờng có nhiều cách hiểu khác nhau về tiền lƣơng nhƣ: “Mức lương mà một cá nhân nhận được do cung cấp một số giờ lao động tối thiểu được quy định trong hợp đồng lương” [17,Tr1090]. Ở định nghĩa này, tiền lƣơng xác định quyền đƣợc nhận của ngƣời lao động khi họ đồng ý cung ứng một đơn vị thời gian 14 z lao động nào đó, hoặc thực hiện một công việc nào đó theo yêu cầu của ngƣời thuê sức lao động.
Do vậy hình thành quan hệ mua bán quyền sử dụng SLĐ theo những mục tiêu mà mỗi bên đặt ra. Ngƣời sở hữu SLĐ thì bán sức lao động của mình để đổi lấy tiền lƣơng, tiền công, còn ngƣời sử dụng SLĐ thì phải trả chi phí cho việc sử dụng lao động. Nhƣ vậy xét ở khía cạnh nào đó thì tiền lƣơng, tiền công là giá của những giờ lao động mà ngƣời bán SLĐ phải thực hiện, theo yêu cầu của ngƣời mua. Hay từ điển kinh tế thị trƣờng thì tiền lƣơng đƣợc định nghĩa:“Tiền lương, tiền công (Salary, wage) là tiền trả hàng tháng cho một nhân viên làm việc trong văn phòng hay quản lý” [13,Tr366].
Ở quan niệm này tiền lƣơng đƣợc coi nhƣ là khoản chi phí mà ngƣời thuê sức lao động phải bỏ ra, nó mang tính chủ quan, áp đặt phụ thuộc vào thái độ, sự đánh giá, cân nhắc của ngƣời thuê sức lao động, đối với họ sức lao động cũng nhƣ các nguồn lực đầu vào khác nhƣ nguyên vật liệu, máy móc…Nhƣ vậy mọi lợi ích dƣờng nhƣ nghiêng về ngƣời thuê sức lao động, còn ngƣời lao động ít có tiếng nói, quyền trong mối quan hệ này. Hay tiếp cận dƣới các góc độ của nền Kinh tế xã hội thì tiền lƣơng cũng đƣợc hiểu dƣới nhiều khía cạnh nhƣ: Dƣới góc độ kinh tế học thì quan niệm tiền lƣơng là một loại chi phí, nhƣng là chi phí con ngƣời-yếu tố động nhất, có vai trò quan trọng nhất trong tất cả các yếu tố sản xuất. Ở đây tiền lƣơng phụ thuộc vào yếu tố sức lao động của NLĐ. Dƣới góc độ pháp luật, tiền lƣơng xác định quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ lao động.
Tại khoản 1, Điều 90, chƣơng VI, Bộ luật lao động của nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2012 quy định “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận…”. Rõ ràng tiền lƣơng là một nội dung quan trọng của hợp đồng thuê sử dụng lao động giữa ngƣời thuê lao động và những ngƣời cung ứng sức lao động. Pháp luật quan tâm đến tính bình đẳng 15 z trong mối quan hệ này. Quyền và nghĩa vụ về tiền lƣơng đều đƣợc quy định bởi các điều khoản trong hợp đồng lao động giữa ngƣời SDLĐ và NLĐ.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì tiền lƣơng là số tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động theo một số lƣợng nhất định mà không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thƣờng đƣợc trả theo tháng hoặc nửa tháng. Còn tiền công (Wage) là khoản tiền trả công lao động theo hợp đồng lao động (chƣa trừ thuế thu nhập cá nhân và các khoản khấu trừ theo quy định) đƣợc tính dựa trên số lƣợng sản phẩm làm ra hoặc số giờ làm việc thực tế. Theo từ điển giải nghĩa Kinh tế- Kinh doanh (Anh- Việt), Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 1996, các khái niệm về tiền lƣơng, tiền công, giá cả sức lao động là những khái niệm đồng nghĩa (Wages), gọi chung là giá cả sức lao động, một trong những yếu đố đầu vào của sản xuất. Tuy nhiên, khái niệm về tiền lƣơng thƣờng đƣợc trả cho lao động là công chức, viên chức, còn khái niệm tiền công là khoản tiền trả cho ngƣời lao động trong khu vực làm công ăn lƣơng gắn với thị trƣờng lao động.
Giáo trình Tiền lƣơng-Tiền công của Trƣờng Đại học Lao động- Xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên, 2004 đã đƣa ra khái niệm “Tiền lƣơng là giá cả sức lao động, đƣợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, chịu tác động của quy luật cung cầu về sức lao động trên thị trƣờng lao động và phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật” [19, Tr9]. Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực do Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh tiền lƣơng đƣa ra khái niệm “Số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động theo giá trị sức lao động mà họ hao phí trên cơ sở thỏa thuận [5, Tr304]. Từ các quan niệm về tiền lƣơng tác giả khái quát nhƣ sau: - Tiền lƣơng là giá cả sức lao động mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động khi họ hoàn thành một khối lƣợng, chất lƣợng công việc nhất định. 16 z - Tiền lƣơng phụ thuộc vào cung –cầu thị trƣờng lao động.
- Tiền lƣơng phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Tuy nhiên không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiếu mà pháp luật quy định. Đây cũng là quan niệm đƣợc tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu tiền lƣơng theo đơn vị dịch vụ cho vị trí nhân viên CSKH tại tập đoàn Hoa Sao. Chức năng của tiền lương.
a) Đối với ngƣời lao động. - Tiền lƣơng là thƣớc đo giá trị sức lao động. Tiền lƣơng có chức năng thƣớc đo giá trị sức lao động, đƣợc dùng làm căn cứ xác định mức tiền trả công cho các loại lao động, xác định đơn giá trả lƣơng, đồng thời là cơ sở để điều chỉnh giá cả sức lao động khi giá cả tƣ liệu sinh hoạt biến động. - Chức năng tái sản xuất sức lao động.
Trong quá trình lao động sản xuất, sức lao động đã bị tiêu hao một phần. Tiền lƣơng là một trong những tiền đề vật chất có khả năng đảm bảo tái sản xuất sức lao động, đảm bảo bù đắp lại sức lao động hao phí. Giá trị sức lao động bao hàm yếu tố lịch sử, vật chất và tinh thần. Tƣ liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động phải gồm cả tƣ liệu sinh hoạt cho ngƣời lao động và con cái họ.
Muốn tái sản xuất xã hội diễn ra bình thƣờng, cần khôi phục và tăng cƣờng sức lao động cá nhân để bù lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất. - Chức năng kích thích sản xuất và tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực. Sử dụng các mức tiền lƣơng khác nhau là đòn bẩy kinh tế quan trọng để định hƣớng sự quan tâm và động cơ của NLĐ. Vì vậy tiền lƣơng phải đảm bảo khuyến khích NLĐ nâng cao năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả lao động, góp phần điều phối và ổn định lao động xã hội.
17 z Ngƣời lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn, làm các công việc phức tạp hơn, trong các điều kiện khó khăn hơn thì phải đƣợc trả lƣơng cao hơn. - Chức năng bảo hiểm, tích luỹ. Trong hoạt động lao động, NLĐ không chỉ dùng tiền lƣơng để duy trì cuộc sống của mình mà còn dành phần để tích luỹ, dự phòng cho cuộc sống sau này, khi họ hết khả năng lao động hoặc chẳng may gặp rủi ro, bất trắc trong cuộc sống. Ngƣời lao động dành một khoản lƣơng để mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…Đây không chỉ thể hiện nhu cầu muốn bảo vệ, phòng tránh các tai nạn, rủi ro mà còn là cách tích luỹ lâu dài.
b) Chức năng xã hội. - Tiền lƣơng là công cụ quản lý nhà nƣớc. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mục tiêu cao nhất là tối đa hoá lợi nhuận. Các chủ lao động luôn muốn tận dụng tối đa sức lao động của NLĐ nhằm giảm chi phí sản xuất.
Để bảo vệ quyền lợi của NLĐ Nhà nƣớc đã ban hành luật, chính sách, chế độ về tiền lƣơng phù hợp buộc cả ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động phải tuân theo. - Chức năng điều tiết lao động. Thông qua hệ thống thang, bảng lƣơng và các chế độ phụ cấp xác định cho từng ngành, vùng với mức lƣơng hợp lý NLĐ sẽ sẵn sàng đón nhận công việc đƣợc giao.