CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH VÀ TIẾN ĐỘ THI CÔNG 1. Đặc điểm thi công các công trình thủy lợi, thủy điện 1. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện Xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện ở nước ta từ trước tới nay và cả trong thời gian tới vẫn là yêu cầu cấp thiết của ngành xây dựng, góp phần đáng kể thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Công trình thủy lợi, thủy điện thường có quy mô lớn dẫn đến thời gian thi công thường kéo dài và thi công trong điều kiện bất lợi về địa hình, địa chất, thủy văn và chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện thời tiết, khí hậu, điều kiện địa phương nơi xây dựng công trình.
Trên công trường thủy lợi, thủy điện có nhiều ngành, nhiều lực lượng tham gia cùng hợp tác tạo thành sản phẩm xây dựng. Do đó, trong công tác lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thi công với các biện pháp kỹ thuật, công nghệ đã chọn phải luôn quan tâm đến khối lượng, chất lượng, thời gian thi công và chi phí xây dựng. Công trình thủy lợi, thủy điện với tư cách là một sản phẩm xây dựng và thường có những tính chất sau: - Sản phẩm xây dựng là những công trình được xây dựng và khai thác sử dụng tại chỗ. - Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương nơi công trình được xây dựng.
- Sản phẩm xây dựng thường có quy mô, kích thước lớn, khối lượng công việc nhiều, chi phí cao, thời gian xây dựng và khai thác sử dụng lâu dài. - Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành nghề cả về phương diện cung cấp nguyên vật liệu và cả về phương diện quản lý khai thác sau này. - Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện đã ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản xuất và quản lý trong xây dựng, làm cho công việc này có màu sắc khác với các ngành sản xuất khác.
Đặc điểm thi công của công trình thuỷ lợi, thuỷ điện - Điều kiện thi công các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện thường không ổn định, luôn thay đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng. Các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn phải thay đổi theo từng công trình, từng địa điểm và giai đoạn xây dựng. Vì vậy, nó gây ra nhiều khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất và thi công các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện. - Thời gian thi công công trình thường kéo dài làm cho vốn xây dựng công trình thường bị ứ đọng lâu, đơn vị thi công dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, giá cả và do điều kiện thời tiết gây ra.
Chính vì vậy, khi lập phương án thi công công trình thủy lợi, thuỷ điện cần phải chú ý đến nhân tố thời gian xây dựng, phải lựa chọn phương án có thời gian hợp lý, dự trữ thích hợp. - Khối lượng các công tác xây lắp lớn, sử dụng nhiều loại vật tư, nhân lực trong điều kiện hạn chế về mặt bằng thi công. - Phải tổ chức sản xuất ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc. Ảnh hưởng của thời tiết thường làm gián đoạn quá trình thi công, gây khó khăn cho việc thực hiện tiến độ thi công, dẫn đến dự trữ vật tư lớn.
- Quá trình sản xuất xây dựng công trình phức tạp, nhiều đơn vị tham gia xây dựng tại một công trường trong điều kiện thời gian và không gian hạn chế. - Thi công các công trình luôn phải gắn chặt với điều kiện địa hình, địa chất, khí tượng, thuỷ văn trong khu vực. Nhiệm vụ của công tác lập kế hoạch tiến độ thi công Xây dựng công trình thuỷ lợi, thuỷ điện cũng như các ngành xây dựng khác muốn đạt được những mục đích đề ra thì phải có một kế hoạch sản xuất cụ thể. Một kế hoạch sản xuất được gắn liền với trục thời gian người ta gọi đó là tiến độ.
Như vậy, tiến độ là một kế hoạch được gắn liền với niên lịch. Mọi thành phần của tiến độ được gắn trên một trục thời gian nhất định. Công trường xây dựng được tiến hành bởi một hay nhiều tổ chức xây lắp với sự tham gia của các nhà thầu, đơn vị thiết kế, doanh nghiệp cung ứng máy móc thiết -5- bị và các loại tài nguyên. Như vậy, công trình thuỷ lợi, thuỷ điện là công trình với hệ điều khiển phức tạp, rộng lớn.
Vì trong hệ này có rất nhiều thành phần và mối quan hệ giữa chúng rất phức tạp. Sự phức tạp cả về số lượng các thành phần và trạng thái của nó là biến động và ngẫu nhiên. Vì vậy, trong xây dựng công trình không thể điều khiển chính xác mà có tính xác suất. Để xây dựng một công trình tốt cần phải có mô hình có tính khoa học điều khiển các quá trình tổ chức và chỉ đạo việc xây dựng.
Mô hình đó là tiến độ thi công. Khi xây dựng một công trình thuỷ lợi, thuỷ điện phải thực hiện rất nhiều quá trình xây lắp liên quan chặt chẽ với nhau trong một không gian và thời gian xác định với tài nguyên có giới hạn. Như vậy, mục đích của việc lập tiến độ là thành lập một mô hình sản xuất, trong đó sắp xếp các công việc sao cho bảo đảm xây dựng công trình trong thời gian ngắn, giá thành hạ, chất lượng cao. Mục đích này có thể nêu cụ thể như sau: - Kết thúc và đưa hạng mục công trình từng phần cũng như tổng thể vào hoạt động, khai thác đúng thời hạn định trước.
- Sử dụng hợp lý máy móc thiết bị. - Giảm thiểu thời gian ứ đọng tài nguyên chưa sử dụng. - Lập kế hoạch sử dụng tối ưu về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ xây dựng. - Cung cấp kịp thời các giải pháp có hiệu quả để tiến hành thi công - Đảm bảo năng suất lao động cao của tất cả các tổ chức tham gia xây dựng.
- Đảm bảo chất lượng cao cho công trình, thể hiện mức đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật của các công việc xây lắp. - Đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa đạt tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật vừa có giá thành hạ. Tiến độ thi công luôn được biểu hiện dưới dạng biểu đồ. Tuỳ theo tính chất của các công trình và yêu cầu của công nghệ, hình thức thể hiện biểu đồ có thể dưới dạng sơ đồ ngang, sơ đồ xiên hay sơ đồ mạng.
Tóm lại, tiến độ là kế hoạch sản xuất thể hiện bằng biều đồ, nội dung bao gồm các số liệu tính toán, các giải pháp được áp dụng trong thi công như: công -6- nghệ, thời gian, địa điểm và khối lượng các công việc xây lắp cùng với điều kiện thực hiện chúng. Tiến độ là bộ phận không thể tách rời của thiết kế tổ chức xây dựng và thiết kế tổ chức thi công. Tiến độ trong thiết kế tổ chức xây dựng gọi tắt là tiến độ tổ chức xây dựng do cơ quan tư vấn thiết kế lập bao gồm kế hoạch thực hiện các công việc: thiết kế, chuẩn bị, thi công, hợp đồng cung cấp máy móc, thiết bị, cung cấp hồ sơ tài liệu phục vụ thi công và đưa công trình vào hoạt động, khai thác. Biểu đồ tiến độ nếu là công trình nhỏ thường được thể hiện bằng sơ đồ ngang, nếu là lớn và phức tạp thường được thể hiện bằng sơ đồ mạng.
Trong tiến độ, các công việc thể hiện dưới dạng tổng quát, nhiều công việc của công trình được nhóm lại và được thể hiện bằng một công việc tổng hợp. Trong tiến độ phải chỉ được thời điểm chủ chốt như: giai đoạn xây dựng, ngày hoàn thành các hạng mục xây dựng, thời điểm cung cấp máy móc thiết bị cho công trình và ngày hoàn thành toàn bộ công trình. Tiến độ trong thiết kế tổ chức thi công xây dựng gọi tắt là tiến độ thi công do đơn vị nhận thầu xây lắp lập. Trong đó, thể hiện các công việc chuẩn bị, xây dựng tạm, xây dựng chính và thời gian đưa từng hạng mục công trình vào hoạt động, khai thác.
Tiến độ thi công có thể được thể hiện bằng sơ đồ ngang hay sơ đồ mạng. Tổng tiến độ được lập dựa vào tiến độ các hạng mục công trình. Các hạng mục công trình khi liên kết với nhau dựa trên sự kết hợp công nghệ kỹ thuật xây dựng và tình hình sử dụng tài nguyên trong thi công. Trong tiến độ, các công việc xây lắp được xác định chi tiết theo từng chủng loại, khối lượng tính toán của thiết kế thi công.
Thời gian hoàn thành hạng mục công trình và toàn bộ công trình phải đúng với tiến độ tổ chức xây dựng do đơn vị tư vấn thiết kế lập. Tiến độ dùng để chỉ đạo thi công xây dựng, để đánh giá sự sai lệch giữa thực tế sản xuất và kế hoạch đã lập, giúp cho người cán bộ chỉ huy công trường có những quyết định để điều chỉnh thi công. Nếu sự sai lệch giữa thực tế sản xuất và kế hoạch quá lớn thì phải xem xét và lập lại tiến độ. Lập tiến độ mới phải dựa trên thực trạng -7- thời điểm đó sao cho vẫn giữ được mục tiêu ban đầu, nếu sai lệch càng ít thì càng tốt, nhất là thời hạn xây dựng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình thủy lợi, thủy điện 1. Nhân tố về khối lượng, dạng công việc và kết cấu công trình - Khi xây dựng công trình thuỷ lợi, thuỷ điện thường phải thực hiện và hoàn thành những khối lượng công tác rất lớn như: công tác đào, đắp đất; công tác bê tông; công tác đá; công tác lắp đặt thiết bị. - Để xây dựng công trình thuỷ lợi, thuỷ điện ta phải thực hiện thi công nhiều hạng mục công trình với nhiều loại công việc có quá trình thi công với công nghệ khác nhau. Ngoài hai công tác chính là công tác đất đá và công tác bê tông thì trên công trường thuỷ lợi, thuỷ điện còn gặp những dạng công tác khác như: khoan phụt xi măng, bơm nước hố móng, đóng cọc, đào hầm, khai thác vật liệu, nổ mìn.
- Các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện thường được xây dựng trong những điều kiện địa hình, địa chất, khí hậu thuỷ văn tại mỗi địa điểm xây dựng hoàn toàn khác nhau và rất phức tạp. Từ những yếu tố đó, các công trình được thiết kế với những thông số như: lưu lượng, cột nước, công suất, dung tích hồ chứa.