đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp phân tích số liệu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; trình bày các bước tiến hành nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và cấu trúc của đề tài. • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Trình bày các lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu bao gồm lý thuyết về nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, lý thuyết hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp, lý thuyết các yếu tố đầu vào, các phương pháp phân tích kinh tế sử dụng hàm sản xuất, định luật năng suất biên giảm dần và các ứng dụng của hàm sản xuất Cobb – Douglas; các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. • Chương 3: Phương pháp thực hiện nghiên cứu.
Trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu bao gồm chọn mẫu nghiên cứu, thu thập số liệu và phân tích số liệu. • Chương 4: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu. Trình bày tổng quan đặc điểm địa bàn nghiên cứu, tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Phú Yên, tình hình nuôi tôm hùm ở tỉnh Phú Yên, quy định kỹ thuật nuôi tôm. • Chương 5: Kết quả nghiên cứu về sản xuất và hiệu quả nuôi tôm hùm.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Phân tích thống kê mô tả về tình hình nuôi tôm hùm của các hộ và thống kê kết quả sản xuất, phân tích hạch toán từng phần, phân tích kết quả mô hình hàm sản xuất, phân tích lượng yếu tố đầu vào tối ưu. • Chương 6: Kết luận và đề xuất Kết luận nội dung và kết quả nghiên cứu chính, đề xuất một số biện pháp và gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi tôm hùm của nông hộ trên địa bàn nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2: LÝ THUYẾT LIÊN QUAN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các lý thuyết liên quan 2.1 Khái niệm và đặc điểm của nuôi trồng thuỷ sản: 2.1 Khái niệm Kinh tế hộ gia đình được xem là tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, được pháp luật thừa nhận là đơn vị kinh tế cơ sở. Hộ nông dân trở thành đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp.
Các thành viên có tài sản chung, đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp (Mai Thị Thanh Xuân và ctg, 2013). Nuôi trồng thuỷ sản là quá trình nuôi trồng các loài thủy sinh bao gồm cá, nhuyễn thể, giáp xác và thuỷ thực vật ở trong đất liền và vùng ven bờ, bao gồm cả sự can thiệp vào quá trình ương nuôi để tăng sản lượng và các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động nuôi trồng thủy sản (FAO, 2008). Nghề nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới có lịch sử từ khoảng 500 năm trước công nguyên ở Trung Quốc. Nghề nuôi thủy sản ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1960 và phát triển nhanh chóng từ những năm thập niên 1970 (Nguyễn Thanh Phương và ctg, 2009).2 Đặc điểm nuôi trồng thuỷ sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất ngoài trời và đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng là các loại động vật sống trong môi trường nước, có máu lạnh, chịu ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều các yếu tố môi trường.
Sinh vật và các điều kiện sản xuất như thời tiết, khí hậu các yếu tố môi trường (thuỷ lý, thuỷ hoá, thuỷ sinh)…tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và có sự biến đổi khôn lường. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất giúp đối tượng nuôi trồng phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định chỉ khi nào phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của các đối tượng nuôi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 trồng thì mới. Do đó, muốn cho các đối tượng nuôi trồng phát triển tốt, con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng. Trong quá trình sản xuất, ngành nuôi trồng thủy sản vừa chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, vừa chịu sự chi phối của quy luật kinh tế.
Điều kiện khí hậu, thời tiết của từng vùng ở Việt Nam có sự khác nhau. Cùng một đối tượng nuôi nhưng ở những địa phương khác nhau thì mùa vụ sản xuất khác nhau, do đó, hiệu quả kinh tế của nó cũng không giống nhau. Hơn nữa, mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng cũng quyết định trình độ thâm canh và khả năng sản xuất của nghề nuôi trồng thủy sản. Nghề nuôi trồng thủy sản mang tính thời vụ rất rõ rệt.
Trong nuôi trồng thủy sản bên cạnh sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu sự tác động của môi trường tự nhiên. Vì vậy, trong nuôi trồng thủy sản, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất. Nhân tố cơ bản quyết định tính thời vụ là quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng. Mặt khác, tính thời vụ của ngành nuôi trồng thủy sản đòi hỏi mỗi hộ nông dân phải có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt việc thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm như việc xác định giá bán theo mùa cho phù hợp.2 Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp nói chung và nuôi trồng thuỷ sản nói riêng Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả sản xuất là phạm trù kinh tế bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối.
Hiệu quả kỹ thuật là khả năng một hộ sản xuất có thể đạt đến mức sản lượng tối đa từ một tập hợp nhất định các yếu tố đầu vào cho trước ứng với trình độ kỹ thuật nhất định. Hiệu quả phân phối được xem là việc phối hợp tối ưu về giá trị các yếu tố đầu vào để tối thiểu hoá chi phí cho một mức sản lượng hay tối đa hoá lợi nhuận. Hiệu quả kinh tế là tích số giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối (Farrel, 1957). Đánh giá về hoạt động kinh tế của hệ thống nuôi trồng là đánh giá về số lượng một cách tổng thể của toàn bộ hệ thống và các hoạt động sản xuất diễn ra trong hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thống, đồng thời, đánh giá mối tương quan giữa các hoạt động của hệ thống với môi trường, tài nguyên, xã hội, bao gồm: sản xuất, năng suất và hiệu quả.
Trong đó, hiệu quả kinh tế là tỷ lệ đầu ra/ đầu vào, giá trị các sản phẩm thu được trên đơn vị đầu tư. Đầu ra là giá trị các sản phẩm bán ra cho thị trường, sản phẩm phụ. Đầu vào là chi phí con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc thú y, chi phí ao hồ/lồng bè, chi phí công lao động, chi phí điện nước, chi phí thuế đất đai, mặt nước hay môi trường, các dịch vụ khác (Nguyễn Quang Linh, 2011).3 Lý thuyết các yếu tố đầu vào Trong nông nghiệp có rất nhiều yếu tố tác động đến năng suất cây trồng và vật nuôi. Các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất vật nuôi, cây trồng trong nông nghiệp nói chung và trong nuôi trồng thuỷ hải sản nói riêng có thể bao gồm: vốn, lao động, thức ăn, chi phí cải tạo môi trường, tiến bộ công nghệ.1 Vốn Đây là yếu tố đầu vào cực kỳ quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất.
Khi có vốn hộ nông dân có khả năng tăng mức đầu tư, mở rộng quy mô, tăng khả năng tận dụng các tốt các cơ hội và tăng hiệu quả kinh tế. Hộ nuôi trồng sử dụng vốn để đầu tư vào lồng, bè, giống, thức ăn, thuốc… đến cuối vụ mới thu hồi được chi phí sản xuất. Vì vậy, đây là điều thường gây khó khăn cho hộ nông dân không có vốn đầu tư. Đặc điểm chung trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong nuôi trồng thuỷ sản nói riêng là có độ rủi ro khá cao do đặc tính thời vụ vì còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.
Một trận dịch lớn thì nguồn vốn sản xuất chỉ còn lại con số không.2 Lao động Lao động nông nghiệp là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động. Có nhiều lý thuyết khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa năng suất và vốn con người. Trong khi phần lớn nhấn mạnh vai trò tích cực của vốn con người thì có một số lập luận đưa ra vai trò tiêu cực. Vốn vật thể và vốn con người (giáo dục) là yếu tố chính tạo ra sự khác biệt năng suất/hiệu quả kinh tế giữa các quốc gia trong dài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Một số quốc gia tăng vốn con người bằng cách cung cấp giáo dục và đào tạo. Ngoài ra, con người có được kiến thức thông qua kinh nghiệm và tương tác với người có học thức. Nelson và Phelps (1966) lập luận rằng nguồn nhân lực tăng năng suất thông qua đổi mới và thích ứng của công nghệ. Giáo dục tạo điều kiện và tăng tốc độ bắt kịp và phổ biến các công nghệ.
Theo Higon và Sena (2006), sự khác biệt về nguồn nhân lực giữa các vùng khác nhau là lý do cho sự khác biệt năng suất giữa các vùng. Theo kết quả của họ, các công ty nằm gần một khu vực trong đó có lực lượng lao động có học vấn lớn, hưởng lợi nhiều hơn từ lan truyền kiến thức hơn so với những người nằm trong khu vực có lực lượng lao động ít học. Mặt khác, Pritchett (2001) lập luận rằng đầu tư vào vốn con người là một hoạt động lãng phí do ba lý do. Đầu tiên, hệ thống tổ chức hoặc chính phủ trong một quốc gia cản trở nguồn nhân lực.
Mức lương thấp, xem xét kỹ năng của họ và những người khác dẫn đến lực lượng lao động được đào tạo có kết quả kém. Lý do thứ hai là nhu cầu thấp của nguồn nhân lực so với nguồn cung nhân lực làm cho lợi ích từ việc giáo dục trở nên thấp. Cuối cùng là chất lượng thấp của hệ thống giáo dục.3 Thức ăn Thức ăn là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong nuôi trồng thủy sản. Thức ăn trong nuôi tôm luôn chiếm chi phí hoạt động rất lớn.