CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.Lý thuyết kinh tế hộ: 1. Khái niệm về kinh tế hộ: Kinh tế hộ gia đình là hoạt động kinh tế gắn liền với gia đình và gia đình là người đứng ra tổ chức các hoạt động đó. Một phần sản phẩm làm ra được sử dụng cho tiêu dùng của gia đình(Đào Công Tiến, 2000). Đặc điểm của kinh tế hộ gia đình: Hộ gia đình là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, sử dụng lao động và nguồn vốn cho sản xuất có quy mô nhỏ, sản xuất phân tán, tính chuyên môn hóa trong sản xuất chưa cao(Đào Công Tiến, 2000).
Đặc trưng của kinh tế hộ: - Về mặt kinh tế: nông hộ vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện trình độ kinh tế của nông hộ. - Về mặt xã hội: các thành viên trong nông hộ có quan hệ huyết thống, thân thuộc và quan hệ hôn nhân. Quan hệ này chi phối mọi hoạt động kinh tế - xã hội của các thành viên.
Nông hộ sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất kinh doanh. Ở nông hộ chỉ tiêu thu nhập thuần là quan trọng nhất, không kể thu nhập đó từ nguồn nào, trồng trọt, chăn nuôi, hay từ nghề ngoài nông nghiệp. Đó là kết quả chung của lao động gia đình. Do thời gian hoạt động của người nông dân cho sản xuất nông nghiệp không được xác định cụ thể theo từng công đoạn như trong sản xuất công nghiệp nên người nông dân không tính toán được chính xác chi phí lao động gia đình đã bỏ ra, mà chỉ ước lượng được chi phí cơ hội của lao động gia đình khi tham gia sản xuất.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thu nhập nông hộ: Thu nhập nông hộ là phần tiền còn lại của hộ nông dân sau khi trừ đi tất cả các chi phí có liên quan mua ngoài như chi phí vật chất, chi phí lao động thuê. Ở nông hộ, thu nhập chủ yếu là dựa vào công lao động của họ bỏ ra. Các thành phần cấu thành thu nhập nông hộ: ở nông thôn, thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào thu nhập trong nông nghiệp, ngoài ra còn có thu nhập từ phi nông nghiệp.
– Thu nhập trong nông nghiệp: bao gồm các nguồn thu từ nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản… hay làm thuê trong nông nghiệp. – Thu nhập phi nông nghiệp: gồm các nguồn như tiền lương, trợ cấp, tiền thu từ các hoạt động thương mại, dịch vụ và các nguồn khác. Vai trò trong kinh tế hộ: Nông thôn nước ta đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đang tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi nông nghiệp, nông thôn là tiền đề phát triển của cả nước và đóng vai trò đặc biệt quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cả nước, đảm bảo lương thực cho quốc gia, cho dự trữ và cho xuất khẩu.
Hơn thế nữa, hộ nông dân và xã hội nông thôn còn là nguồn cung cấp lao động dồi dào để phát triển các ngành nghề ở nông thôn nói riêng và đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho ngành công nghiệp, du lịch để góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất trong nông nghiệp. Vốn trong nông nghiệp Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp. Vốn trong nông nghiệp được phân thành vốn cố định và vốn lưu động. Vốn sản xuất nông nghiệp có đặc điểm là tính thời vụ do đặc điểm của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nhiều vào tự nhiên.
Do chu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài nên vốn dùng trong nông nghiệp có mức lưu chuyển chậm. Vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp, vốn đầu tư của ngân sách, vốn từ tín dụng nôngthôn và nguồn vốn nước ngoài. Nguồn lao động nông nghiệp Nguồn lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Nguồn lao động nông nghiệp là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động.
Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến gia tăng sản lượng. Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này. Nhìn chung, nguồn lao động nông nghiệp Việt Nam chất lượng không cao do kỹ năng, kiến thức, tay nghề còn hạn chế, vì vậy thời gian tới cần đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động mới tạo sự gia tăng mạnh về năng suất lao động. Để nâng cao chất lượng nguồn lao động hay nói cách khác nâng cao vốn con người thì lao động đó phải được giáo dục và đào tạo, đó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế.
Đất nông nghiệp Bao gồm đất canh tác cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đồng cỏ dùng cho chăn nuôi, diện tích mặt nước dùng sản xuất nông nghiệp. Đất đai là nguồn tài nguyên nhưng có giới hạn, do đó cần có sự quản lý chặt chẽ và sử dụng các phương pháp để nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích. Đất có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Công nghệ Như đã nêu phần trên, công nghệ được xem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động.
Ứng dụng công nghệ mới vào TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 sản xuất sẽ nâng cao qui mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động, chi phí sản xuất thấp, do đó tác động gia tăng lợi nhuận, hiệu quả. Lý thuyết về năng suất Nhà kinh tế học Adam Smith là tác giả đầu tiên đưa ra thuật ngữ năng suất trong một bài báo bàn về vấn đề hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả năng sản xuất vào năm 1776. Hiểu một cách đơn giản năng suất là tỉ số giữa đầu ra và đầu vào. Đầu ra, đầu vào được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế- xã hội [1] Cho đến nay nhiều người vẫn hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động.
Nhưng thực tế, ý nghĩa của năng suất mang tính toàn diện hơn. Năng suất không chỉ là làm ra bao nhiêu sản phẩm trên một đơn vị thời gian, mà năng suất gắn liền với thị trường, với cạnh tranh, với chất lượng. Theo Mohanty & Yadav (1994) [2], năng suất được định nghĩa đơn giản là tỉ số giữa đầu ra (các sản phẩm hay dịch vụ) và đầu vào (vốn, lao động, nguyên vật liệu, năng lượng và các đầu vào khác). Theo Smith (1995) [2], định nghĩa về năng suất bao gồm lợi nhuận, hiệu suất (efficiency), hiệu quả (effectiveness), giá trị, chất lượng.
Theo Ross Chapman &Khleef Al- Khawaldeh (2002) [2], năng suất còn được xem là tạo ra và cung cấp sản phẩm dịch vụ bằng cách sử dụng tối thiểu mọi nguồn lực, cả con người và vật chất, nhằm đạt sự thỏa mãn của khách hàng, cải thiện chất lượng sống của con người và tránh gây tổn hại đến môi trường: Ñaàu ra Naêng suaát = ( Lao ñoäng + Voán + Nguyeân vaät lieäu + Chi phí baûo veä moâi tröôøng + Naênglöôïng + Caùc chi phí khaùc ) Ngoài ra, có nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến năng suất của các tác giả khác sau đây: Năng suất và cạnh tranh Theo Michael Porter (1990) [2], “ Khái niệm có ý nghĩa duy nhất của cạnh tranh ở mức quốc gia là năng suất quốc gia. Năng suất phụ thuộc cả vào chất lượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 lẫn những đặc điểm của các sản phẩm và hiệu suất mà ở mức đó chúng được sản xuất” Năng suất – giá trị gia tăng Theo S.K Chan (1995) [3], “Ngày nay năng suất được xem là giá trị gia tăng cộng thêm vào tối ưu hóa. Theo nghĩa đó, năng suất có thể được cải thiện bằng cách nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng của các sản phẩm và dịch vụ hay giảm chi phí sản xuất hoặc cả hai. Năng suất là một khái niệm tổng thể liên quan đến những yếu tố chủ yếu của cạnh tranh: đổi mới, chi phí, chất lượng và giao hàng đúng hạn” Năng suất và những mục tiêu xã hội Năng suất tạo ra giá trị gia tăng thông qua hình thành và áp dụng tri thức để làm ra sản phẩm thỏa mãn người sử dụng nhưng cũng phải phù hợp với những mục tiêu xã hội, kinh tế và môi trường của xã hội.
Khái niệm năng suất theo cách tiếp cận mới: Năng suất là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu ra đó. Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phương thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào. Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội. Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả.
Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất - kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp vĩ mô thường sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất. Đầu vào trong khái niệm này được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý. Như vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra.
Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 được với những thách thức của môi trường cạnh tranh và những mong đợi của xã hội.