Đồ án hcmute ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến tính chất tinh bột lúa mì bán thủy phân bằng hỗn hợp enzyme alpha amylase và amyloglucosidase

Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến tính chất tinh bột lúa mì bán thủy phân bằng enzyme alpha amylase và amyloglucosidase.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

91
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tinh bột

1.1.1. Hình thái học

1.1.2. Amylose

1.1.3. Amylopectin

1.1.4. Thành phần hóa học của hạt tinh bột

1.2. Tính năng công nghệ

1.3. Các phương pháp biến tính tinh bột

1.4. Tinh bột xốp

1.4.1. Các phương pháp tạo tinh bột xốp

1.4.1.1. Phương pháp bán thủy phân hạt tinh bột nguyên thủy bằng acid hoặc enzyme
1.4.1.2. Phương pháp lạnh đông và làm tan băng
1.4.1.3. Phương pháp thay đổi dung môi
1.4.1.4. Các phương pháp khác

1.5. Sự oxi hóa chất béo

1.6. Dầu hướng dương

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Dầu hướng dương

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thủy phân tinh bột lúa mì bằng hỗn hợp enzyme alpha–amylase và amyloglucosidase

2.2.2. Phương pháp xác định mức độ thủy phân

2.2.3. Phương pháp quan sát đặc điểm hình thái của hạt tinh bột thủy phân bằng SEM

2.2.4. Phương pháp xác định khả năng giữ nước và giữ dầu

2.2.5. Phương pháp xác định độ hòa tan và độ trương nở

2.2.6. Phương pháp xác định độ nhớt

2.2.7. Phương pháp xác định độ truyền suốt

2.2.8. Phương pháp xử lý dầu hướng dương bằng tinh bột bán thủy phân

2.2.9. Phương pháp đo peroxide của dầu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến mức độ thủy phân của tinh bột lúa mì

3.2. Hình thái học của tinh bột lúa mì thủy phân

3.3. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến độ giữ dầu và giữ nước của tinh bột lúa mì

3.4. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến độ trương nở và độ hòa tan của tinh bột lúa mì

3.5. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến độ nhớt của tinh bột lúa mì

3.6. Ảnh hưởng của thời gian đến độ truyền suốt của tinh bột lúa mì

3.7. Ảnh hưởng của tinh bột lúa mì bán thủy phân đến sự oxi hóa dầu hướng dương

3.8. Phân tích tương quan Pearson giữa thời gian thủy phân và các tính chất chức năng của tinh bột bán thủy phân

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến tính chất tinh bột lúa mì

Bài nghiên cứu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của thời gian thủy phân lên tinh bột lúa mì khi sử dụng enzyme alpha amylaseenzyme amyloglucosidase. Nghiên cứu đi sâu vào việc đánh giá các tính chất tinh bột sau khi thủy phân enzym ở các mốc thời gian khác nhau.

1.1. Mức độ thủy phân và hình thái học

Kết quả cho thấy thời gian thủy phânảnh hưởng đáng kể đến mức độ thủy phân của tinh bột lúa mì. Cụ thể, mức độ thủy phân tăng dần theo thời gian, từ 5,504% sau 6 giờ lên đến 20,295% sau 30 giờ.

Hình thái học của hạt tinh bột cũng thay đổi rõ rệt. Quan sát bằng kính hiển vi điện tử quét cho thấy sự xuất hiện của các lỗ rỗng và vết nứt trên bề mặt hạt tinh bột sau khi thủy phân. Các thay đổi này được cho là do hoạt động của enzyme alpha-amylaseamyloglucosidase.

1.2. Tính chất chức năng

Thời gian thủy phân cũng ảnh hưởng đến tính chất chức năng của tinh bột. Khả năng giữ dầugiữ nước của tinh bột lúa mì bán thủy phân tăng lên, đặc biệt là ở các mẫu thủy phân từ 18 đến 30 giờ. Tương tự, độ hòa tanđộ trương nở cũng tăng lên sau khi thủy phân.

Nghiên cứu cũng ghi nhận sự gia tăng về độ nhớtđộ truyền suốt của tinh bột sau khi thủy phân. Tuy nhiên, độ truyền suốt có xu hướng giảm dần trong 5 ngày quan sát.

1.3. Ứng dụng trong hạn chế oxi hóa dầu

Một phát hiện quan trọng của nghiên cứu là tinh bột xốp, sản phẩm của quá trình thủy phân, có khả năng hạn chế sự oxi hóa của dầu hướng dương trong quá trình bảo quản. Điều này mở ra tiềm năng ứng dụng của tinh bột lúa mì bán thủy phân trong công nghiệp thực phẩm, đặc biệt là trong việc kéo dài thời hạn sử dụng và bảo quản các sản phẩm dầu.

01/02/2025
Đồ án hcmute ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến tính chất tinh bột lúa mì bán thủy phân bằng hỗn hợp enzyme alpha amylase và amyloglucosidase

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tinh bột Tinh bột là nguồn năng lượng dự trữ chính trong các loại ngũ cốc. Mặc dù hàm lượng tinh bột có trong ngũ cốc khác nhau, nhưng nó thường nằm trong khoảng 60 ÷ 75% trọng lượng của hạt và cung cấp 70 ÷ 80% lượng calo mà con người tiêu thụ trên toàn thế giới (Thomas và Atwell, 1999). Ngoài giá trị dinh dưỡng của chúng, tinh bột và tinh bột biến tính có thể được sử dụng để làm ảnh hưởng đến tính chất vật lý của nhiều loại thực phẩm. Ví dụ, các loại tinh bột thương mại thu được từ cây ngũ cốc bắp, lúa mì, các loại gạo khác nhau và củ như khoai tây, sắn có thể sử dụng trong tạo gel, làm dày, bám dính, giữ ẩm, ổn định, kết cấu,… Các hạt tinh bột trong các tế bào dự trữ có thể khác nhau về hình dạng, kích thước và thành phần (Pe´rez and Bertoft, 2010).

Chúng có thể là hình cầu, hình bầu dục, hình đa giác, hình hạt đậu,… Kích thước của các hạt tinh bột thay đổi từ 2 ÷ 3𝜇𝑚 (Eliasson, 2004).1 Hình thái học Hạt tinh bột từ nhiều nguồn thực vật khác nhau thì có hình dạng, kích thước và hình thái học khác nhau (Jane và cộng sự, 1994). Các hạt tinh bột có cấu trúc tinh thể khác nhau. Nghiên cứu hình thái học của hạt tinh bột bằng tia X cho thấy có ba loại cấu trúc là A, B và C, phụ thuộc vào chiều dài của chuỗi amylopectin (Hizukuri, 1985). Tham gia vào thành phần cấu tạo trong cấu trúc tinh thể dạng B là các sợi amylose xoắn kép song song ngược chiều, được sắp xếp cạnh nhau theo hình lục giác, vùng tâm của hình lục giác chứa đầy nước (36 phân tử H2O/ 1 unit cell).

Cấu trúc tinh thể dạng A tương tự như cấu trúc dạng B, nhưng tâm của hình lục giác thay bằng H2O là một chuỗi xoắn kép khác, khiến cho toàn bộ “bó sợi” có cấu trúc chặt chẽ hơn và trong trường hợp này chỉ có 8 phân tử nước nằm xen kẽ giữa các chuỗi xoắn kép. Dạng C là sự kết hợp giữa dạng A và B (Anh, 2007). 1 do an Hình 1.1: Cấu trúc tinh thể của hạt tinh bột loại A và B (Imberty và cộng sự, 1991). Các vòng tròn nhỏ màu đen đại diện cho các phân tử nước trong cấu trúc; phân tử glucose được đại diện bằng các vòng tròn mở.1 Amylose Là phân tử xếp thẳng hàng nối với nhau bằng liên kết α-1,4-glycosidic.

Khi quan sát phân tử ở kích thước lớn hơn, có thể thấy nó có hình dạng xoắn ốc. Phần bên trong của chuỗi xoắn ốc chứa các nguyên tử hydro do đó kỵ nước, cho phép amylose hình thành một loại phức chất với acid béo tự do, hợp chất acid béo của glycerides, một số alcohols và iodine (Fennema và cộng sự, 1985). Có một số bằng chứng chứng minh mức độ nhỏ phân nhánh 1-6 trong amylose, nhưng sự phân nhánh không thường xuyên và các nhánh dài, vì vậy tính chất hóa lý của nó phù hợp với tính chất của đoạn polymer mạch thẳng (Ronal, 2012). Trọng lượng phân tử của amylose trong khoảng 105 – 106, với mức độ polyme hóa DP (degree of polymerization) từ 1000 – 2000 (thấp) và 4500 – 6000 (cao) (Anh, 2007).2: Cấu trúc amylose 2 do an 1.2 Amylopectin Phân tử chiếm ưu thế trong hầu hết các loại tinh bột thông thường, chiếm khoảng 65 ÷ 85% hạt tinh bột (Fredriksson và cộng sự, 1998; Gérard và cộng sự, 2001).

Tuy nhiên, một số loại cây đột biến thì hàm lượng amylopectin cao hơn nhiều và có thể đạt tới 100%. Là một polymer phân nhánh lớn lơn hơn nhiều so với amylose. Amylopectin được cấu tạo bởi các đoạn glucose nối bằng liên kết α-1,6 và α-1,4, ước tính rằng phân tử amylopectin có liên kết α-1,6 trung bình chiếm 4 ÷ 6% (Hood và cộng sự, 1982). Mỗi phân tử amylopectin có một đầu khử.

Khối lượng phân tử của amylopectin trong khoảng 106 ÷ 108 tương đương với DP từ 5000 đến 50 000 D – glucose units (Ronal và cộng sự, 2012).3: Cấu trúc amylopectin 1.3 Thành phần hóa học của hạt tinh bột Tinh bột ngũ cốc chứa lipid tích hợp ở dạng lysophospholipids và acid béo tự do có mối tương quan tích cực với hàm lượng amylose trong hạt tinh bột. Hàm lượng lysophospholipids có thể chiếm tới 2% khối lượng tinh bột (Morrison, 1985, 1988, 1995). Tinh bột chứa 0,6% protein. Tương tự như lipid trong tinh bột, protein cũng được tìm thấy trên bề mặt tinh bột (và bao gồm các protein không có nguồn gốc từ tinh bột).

Cả lipid và protein của tinh bột đều có khả năng điều tiết chức năng tinh bột (Appelqvist and Debet, 1997). Protein trong tinh bột có khối lượng phân tử cao hơn protein trên bề mặt (~ 50 ÷ 150 và ~ 15 ÷ 30 kDa, tương tự) và bao gồm dư lượng enzyme tham gia vào quá trình tổng hợp tinh bột (Baldwin, 2001). 3 do an Tinh bột cũng chứa một lượng tương đối nhỏ (0,4%) khoáng chất (canxi, magie, phospho, kali và natri), ngoại trừ phospho. Phospho được tìm thấy ở 3 dạng chính: monoester, phospholipid và phosphate vô cơ (Blennow và cộng sự, 1998, 2000 a,b, 2002; Kasemsuwan và Jane, 1996).4 Tính năng công nghệ 1.1 Hồ hóa và pasting Hồ hóa và pasting đã được mô tả như là một tập hợp các hiện tượng chứ không phải là hiện tượng đơn lẻ (Atwell và cộng sự, 1988; Parker và Ring, 2001).

Đun nóng tinh bột với sự có mặt của nước dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc hạt bất thuận nghịch ở nhiệt độ (nhiệt độ hồ hóa) là điểm đặc trưng của các loại hạt tinh bột với nguồn gốc thực vật và thành phần phân tử khác nhau. Nếu được thực hiện trong một khoảng thời gian đủ dài với sự có mặt của nước dư (nước:tinh bột > 1,5), có thể dẫn đến sự phá vỡ hoàn toàn các hạt và tạo ra sự phân tán phân tử của các phân tử tinh bột (Atwell và cộng sự, 1999). Quá trình hồ hóa bao gồm một số giai đoạn trương nở của hạt khi đun nóng dần trong nước, hình thái học thay đổi giữa các loại tinh bột khác nhau. Đồng thời các hạt trương nở lên gấp nhiều lần so với kích thước ban đầu của chúng.

Trong quá trình hồ hóa, amylose với kích thước nhỏ hơn, sẽ bị hòa tan và thoát ra ngoài. Sự rò rỉ có thể được thúc đẩy bởi sự không tương thích nhiệt động học (không trộn lẫn được) giữa amylose và amylopectin (Kalichevsky và Ring 1987). Khi gia nhiệt tiếp tục vượt quá nhiệt độ hồ hóa, các hạt tinh bột tiếp tục phồng lên, dạng paste được hình thành (Cui, 2005).2 Tính thoái hóa của tinh bột Thuật ngữ thoái hóa được sử dụng để chỉ sự ngược lại của tinh bột bị trương nở, hồ hóa hoặc hòa tan hoàn toàn hay không hoàn toàn. Hiện tượng này dễ dàng quan sát thấy nếu dung dịch tinh bột 1% hòa tan để trong tủ lạnh trong vài ngày.

Một phần tinh bột dần dần kết tủa và lắng xuống (French, 1973). Về cơ bản, thoái hóa tinh bột liên quan đến việc liên kết các chuỗi phân tử thành các tập hợp có tổ chức. Nguyên nhân của hiện tượng thoái hóa là do sự hình thành các cầu hydro giữa các phân tử tinh bột. Amylose có cấu trúc mạch thẳng nên khả năng định hướng và tập hợp lại dễ dàng hơn so với amylopectin.

Vì thế nói chung hiện tượng thoái hóa thường liên quan đến thành phần amylose của tinh bột (Anh, 2007). Sự thoái hóa có thể nghịch đảo một phần bằng cách gia nhiệt. Ngược lại, sự thoái hóa được thúc đẩy bằng cách làm mát 4 do an hoặc đặc biệt là lạnh đông gel tinh bột. Gel tinh bột nếu thực hiện đến một vài chu kỳ đóng băng và tan băng trở lại thì hoàn toàn không thể nghịch đảo được sự thoái hóa (Pfannemüller, 1971).3 Trương nở và hòa tan Khi tinh bột được gia nhiệt trong nước dư, cấu trúc tinh thể bị phá vỡ do sự bẻ gãy các liên kết hydro.

Các phân tử nước liên kết sẽ với nhóm hydroxyl của amylose và amylopectin nhờ liên kết hydro. Đó là nguyên nhân làm cho các hạt tinh bột trương nở và hòa tan. Độ trương nở và độ hòa tan cho thấy mức độ tương tác giữa các chuỗi tinh bột trong các vùng vô định hình và kết tinh. Mức độ tương tác này bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ amylose/amylopectin, khối lượng phân tử, sự sắp xếp, mức độ, chiều dài phân nhánh và cả cấu tạo hạt tinh bột (Swinkels, 1985).5 Các phương pháp biến tính tinh bột Tinh bột biến tính được sản xuất trong công nghiệp để ứng dụng các tính chất đặc biệt của chúng.

Sự biến tính nhằm mục đích làm thay đổi các đặc tính của hạt tinh bột và dẫn đến sự thay đổi các tính chất hồ hóa, nấu, thoái hóa và sự tạo gel. Các phương pháp biến tính tinh bột có thể được phân loại theo tác nhân gây biến tính. Các tác nhân thường được biết đến bao gồm: - Phương pháp vật lý thường gặp là gia nhiệt khan, hồ hóa sơ bộ, sử dụng các tia năng lượng cao (Huang và cộng sự, 2007). - Phương pháp hóa học được sử dụng rộng rãi và tạo ra tác động sâu sắc đến tính chất hóa học ban đầu của tinh bột.

Các tác nhân hóa học chủ yếu gây tác động lên các nhóm chức, từ đó có thể thay thế hay đưa một nhóm chức mới thay thế vào trong phân tử amylose hay amylopectin (Masina và cộng sự, 2017). Các biến đổi hóa học thường thấy là sự oxi hóa tinh bột, ổn định lại hay phân cắt chuỗi polymer, tạo liên kết ngang (Caballero và cộng sự, 2015). - Phương pháp sử dụng enzyme ngày càng được nghiên cứu nhiều hơn với vai trò như là một kỹ thuật thay thế phương pháp hóa học truyền thống để thay đổi cấu trúc dạng hạt và phân tử tinh bột. Ưu điểm của phương pháp này là: khả năng phản ứng nhanh chóng, độ chọn lọc cao và tạo ra ít hơn các sản phẩm phụ không mong muốn so với các quá trình hóa học đòi hỏi điều kiện nghiêm ngặt và nồng độ các hợp chất tham gia phản ứng phải lớn (Jin, 2018).

Về cơ bản có bốn nhóm enzyme có thể sử dụng nhằm biến tính tinh bột: 5 do an (i) endoamylases; (ii) exoamylases; (iii) debranching enzymes; and (iv) transferases (Maarel và cộng sự, 2002). + Endoamylases: Endoamylase còn được gọi là enzyme dịch hóa mà đặc trưng là alpha – amylase. Các enzyme thuộc nhóm này có tác dụng cắt đứt các liên kết glycosidic nằm bên trong của cả amylose, amylopectin và các polysacharide liên quan như glycogen. Sản phẩm của quá trình thủy phân này là các oligosacharide có độ dài chuỗi khác nhau (Hill và cộng sự, 1987).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Ảnh hưởng của thời gian thủy phân đến tính chất tinh bột lúa mì bằng enzyme alpha amylase và amyloglucosidase" khám phá cách mà thời gian thủy phân ảnh hưởng đến các đặc tính của tinh bột lúa mì khi sử dụng hai loại enzyme quan trọng. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về quá trình thủy phân mà còn chỉ ra những ứng dụng tiềm năng trong ngành thực phẩm, đặc biệt là trong việc cải thiện chất lượng sản phẩm từ tinh bột. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc điều chỉnh thời gian thủy phân có thể tối ưu hóa tính chất của tinh bột, từ đó nâng cao giá trị dinh dưỡng và khả năng sử dụng trong chế biến thực phẩm.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các enzyme và ảnh hưởng của chúng trong ngành thực phẩm, hãy tham khảo bài viết "Đồ án hcmute sự ảnh hưởng của enzyme transglutaminase đến chất lượng phô mai tươi trong quá trình bảo quản". Bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách enzyme có thể cải thiện chất lượng thực phẩm.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về ảnh hưởng của các yếu tố khác đến tính chất tinh bột qua bài viết "Đồ án hcmute ảnh hưởng của liều chiếu electron beam lên các tính chất hóa lý và tiêu hóa của tinh bột khoai mỡ". Đây là một nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến nghiên cứu và ứng dụng của tinh bột trong thực phẩm.

Những liên kết này sẽ giúp bạn khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực nghiên cứu thực phẩm và enzyme.