CHƯƠNG 1 Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến ảnh hưởng của quy mô DNKT đến CLKT, tác giả đã đưa ra các khe hổng nghiên cứu, từ đó tác giả đã xây dựng thiết kế nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp kiểm toán đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán độc lập ở Thành phố Hồ Chí Minh”. 123doc 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Chất lượng kiểm toán và các nhân tố ảnh hư ng đến chất lượng kiểm toán 2.1 Khái niệm chất lượng kiểm t án 2.1 Khái niệm chất lượng Chất lượng là mục tiêu hướng đến của mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Tuy nhiên, việc định nghĩa thế nào là chất lượng thật sự là một vấn đề phức tạp. au đây là một số định nghĩa về chất lượng theo quan điểm của các tổ chức và nhà nghiên cứu khác nhau: Theo Từ điển Bách khoa toàn thư iệt Nam, Chất lượng là một phạm tr triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, ch rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, để phân biệt nó với các sự vật khác.
Theo định nghĩa Các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng – TCVN 5200 – ISO 9000, Chất lượng là mức ph hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua. Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu u – EQC, Chất lượng là mức ph hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu d ng. “Chất lượng là sự ph hợp với yêu cầu” Philip B. Crosby, theo Tạp chí Quality Progress, 2011).
“Chất lượng là tập hợp tất cả các đặc tính của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được mong đợi của khách hàng” Armand. Feigenbaum, theo Tạp chí uality Progress, 2011). “Chất lượng là sự thõa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” Kaoru Ishikawa, theo Tạp chí uality Progress, 2011). 123doc 13 Từ những định nghĩa về chất lượng được nêu ở trên cho thấy hầu hết các định nghĩa đều gắn chất lượng với sự thõa mãn nhu cầu của thị trường người tiêu d ng hoặc các quy định pháp lý) bằng những đặc tính vốn có của sản phẩm hoặc dịch vụ.
Bởi khi thõa mãn được thị trường thì doanh nghiệp không những giữ được người tiêu d ng, mà c n thu hút được các đối tượng tiêu d ng mới, từ đó mang lại lợi nhuận, nâng cao uy tín và ngày càng phát triển. Ngoài ra, chất lượng ở đây không ch là của sản phẩm hay dịch vụ mà c n là chất lượng của một hệ thống, một quy trình. Tóm lai, chất lượng có thể được định nghĩa là mức độ tập hợp tất cả các đặc tính vốn có của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được những yêu cầu trong những điều kiện xác định (theo nghiên cứu của Đinh Thanh Mai, 2014). Theo đó, có ba nội dung cơ bản khi xem x t yếu tố chất lượng của sản phẩm và dịch vụ: Thứ nhất, t n n n m t phát t n th n n ph m ch v chất lượng được phản ánh qua tất cả các đặc tính vốn có, thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của sản phẩm dịch vụ đó, làm cho sản phẩm dịch vụ này khác biệt với sản phẩm dịch vụ khác.
Thứ hai, t n n n m củ các nhà n t chất lượng là sự ph hợp của một sản phẩm dịch vụ với các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình sản xuất và bảo hành được xác định dựa trên thị trường. Thứ ba, t n n n m của ngư t ng chất lượng là đáp ứng được những yêu cầu của người tiêu d ng sự hoàn thiện của sản phẩm, giá cả, sự kịp thời…) trong những điều kiện tiêu d ng cụ thể của từng người, từng khu vực khác nhau.2 Khái niệm chất lượng kiểm t án Hoạt động kiểm toán độc lập đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế. Dịch vụ kiểm toán là loại hình dịch vụ kiểm toán đặc thù, mang tính chuyên môn cao. Do vậy, khác với dịch vụ của các nghề nghiệp khác, chất lượng của dịch vụ kiểm toán độc lập không dễ dàng quan sát hay kiểm tra, đánh giá.
Chất lượng kiểm toán, về bản chất, là một khái niệm phức tạp và đa dạng (IAASB, 2011). Vì vậy nhiều nghiên cứu trên thế giới đã nổ lực trong việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng về chất lượng kiểm toán. Tuy nhiên, tùy thuộc vào góc nhìn của từng đối tượng khác nhau, từng mục đích sử dụng kết quả kiểm toán khác nhau mà nhận thức về chất lượng kiểm toán cũng khác nhau. Dưới đây là một số định nghĩa chất lượng kiểm toán dưới các góc nhìn khác nhau (theo nghiên cứu của Đinh Thanh Mai, 2014).
Chất lượng kiểm toán ư i góc nhìn của khách hàng Dưới góc nhìn của khách hàng, hoạt động kiểm toán là một dịch vụ được cung cấp bởi DNKT. Do đó, chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa trên sự thõa mãn của khách hàng. Theo Parasuraman và cộng sự (1985), cần dựa vào năm yếu tố để đánh giá chất lượng dịch vụ thang đo sử dụng là SERVQUAL) bao gồm: - Sự tin cậy (Reliability): khả năng cung ứng dịch vụ đúng như cam kết với khách hàng; - Sự đáp ứng (Responsiveness): sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên trong việc cung ứng dịch vụ nhanh chóng; - Năng lực phục vụ (Assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và thái độ lịch sự, niềm nở với khách hàng; - Sự đồng cảm (Empathy): sự phục vụ chu đáo, sự quan tâm đặc biệt đối với khách hàng và khả năng am hiểu những nhu cầu riêng biệt của khách hàng; 123doc 15 - Yếu tố hữu hình Tangibles): các phương tiện vật chất, trang thiết bị, tài liệu quảng cáo…và bề ngoài của nhân viên bán hàng. Theo Watts và Zimmerman 1983) và DeAngelo 1981) thì CLKT dưới góc độ khách hàng là xác suất của KTV phát hiện ra các sai sót trọng yếu trên BCTC và báo cáo sai sót này với nhà quản lý.
CLKT theo CMKiT Việt Nam số 220 :KSCL hoạt động kiểm toán” ban hành theo quyết định số 28/2003/ Đ-BTC ngày 14/03/2003 là “mức độ thõa mãn của các đố tượng sử d ng kết qu kiểm toán về tính khách n và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán củ KTV; đồng th i thõa mãn mong muốn củ đơn v được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hi u qu hoạt động kinh doanh, trong th g n đ nh t ước với giá phí hợp lý”. Tóm lại, CLKT dưới góc nhìn của khách hàng là: - Thứ nhất, chất lượng kiểm toán thể hiện ở sự tuân thủ theo đúng chuẩn mực kiểm toán; - Thứ hai, chất lượng kiểm toán là sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng về dịch vụ mà họ được cung cấp trong đó rõ n t nhất là những ý kiến giúp khách hàng thực hiện hiệu quả công tác quản lý; - Thứ ba, chi phí cho dịch vụ kiểm toán thấp một cách hợp lý; - Thứ tư, thể hiện ở tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên Chất lượng kiểm t án ư i góc nhìn của doanh nghiệp kiểm toán Dưới góc nhìn của DNKT, dịch vụ kiểm toán là một hoạt động kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, dịch vụ kiểm toán là một loại hình dịch vụ đặc thù, với đặc điểm nghề nghiệp luôn coi trọng trách nhiệm đối với xã hội, bên cạnh trình độ chuyên môn, tiêu chuẩn hành nghề và niềm tin của công chúng. 123doc 16 Theo Taylor 1911), dưới góc nhìn của DNKT, CLKT là (1) việc tuân thủ đầy đủ chuẩn mực, các quy định nghề nghiệp, kiểm soát rủi ro, (2) việc lựa chọn các thủ tục kiểm toán luôn cần được cân đối giữa chi phí và lợi ích tức là chi phí dịch vụ kiểm toán phù hợp với mức độ rủi ro kiểm toán (giảm thiểu các vụ kiện tụng, tăng cường uy tín) (theo nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân, 2011).
Một số nghiên cứu khác cũng ch ra rằng CLKT là mức độ doanh nghiệp kiểm toán tuân thủ theo các CMKiT trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán (Krishnan và Schauer, 2001; McConnell và Banks, 1998). Ngoài ra, DNKT là người cung cấp dịch vụ, nên chất lượng dưới góc độ nhà cung cấp là chất lượng mang tính chủ quan. Chất lượng này không bị quyết định bởi kỳ vọng của khách hàng mà được xác định bởi DNKT. Các DNKT thường xây dựng một quy trình kiểm toán và KSCL nhằm giúp KTV có thể đưa ra ý kiến trung thực và hợp lý.
Như vậy, một cuộc kiểm toán có chất lượng là khi KTV và DNKT tuân thủ đầy đủ chuẩn mực chuyên môn, tuân thủ các quy trình, các thủ tục do DNKT thiết lập (Trần Thị Giang Tân, 2011). Bên cạnh đó, mục tiêu lợi nhuận cũng cần được cân đối với chi phí bỏ ra bởi lợi nhuận là mục tiêu chính của hoạt động kinh doanh. Như vậy, CLKT dưới góc nhìn của DNKT được tổng quát qua bốn điểm sau: - Thứ nhất, chất lượng kiểm toán là việc thõa mãn mong muốn của khách hàng và không trái pháp luật; - Thứ hai, chất lượng kiểm toán là việc hoạt động kiểm toán tuân theo đúng chuẩn mực kiểm toán; - Thứ ba, cuộc kiểm toán phải đem lại lợi nhuận cho công ty; - Thứ tư, chất lượng kiểm toán là việc đồng thời đảm bảo mục tiêu là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính và mang lại các lợi ích bổ sung cho khách hàng. Chất lượng kiểm t án ư i góc nhìn của người sử dụng báo cáo kiểm toán (nh đầ tư, đối tác, hội nghề nghiệp, c ng chúng,…) 123doc 17 Đối tượng sử dụng BCTC có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm có mối liên hệ trực tiếp như chủ sở hữu, cổ đông, trái chủ, nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ và nhóm có mối liên hệ gián tiếp như xã hội, hội nghề nghiệp, công chúng.