Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác. Dưới tác động của cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt. Nền kinh tế đất nước đang xây dựng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp là cơ sở để quá trình đô thị hóa được đẩy mạnh.
Theo thống kê tính đến hiện nay Việt Nam có 758 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh, cả nước có 5 đô thị trực thuộc trung ương và 10 đô thị loại một. Dân số ở các đô thị theo đó cũng ngày càng tăng. PTĐT nhanh, công nghiệp phát triển là những tiêu chuẩn để đánh giá sự tăng trưởng của một đất nước, làm cho đời sống kinh tế đất nước có những khởi sắc. Cùng với sự phát triển KT-XH của đất nước, vấn đề phát triển đô thị không còn là việc tạo ra cái bề thế, cái hoành tráng của quần thể đô thị, thỏa mãn nhu cầu không chỉ của nhà nước, của cả cộng đồng và của cả cá nhân, mà còn giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn trong sử dụng đất, sức ép lên tài nguyên, ô nhiễm môi trường tự nhiên, vấn đề giải quyết việc làm, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội,… Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình phát triển đô thị đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới môi trường đất.
Thái Nguyên là một tỉnh ở phía Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Thành phố Thái Nguyên đang trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và hiện đại hoá với tốc độ phát triển cao và nhanh chóng. Quá trình phát triển đô thị diễn ra trên bình diện rộng, đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hoá, xã hội và kiến trúc của cả thành phố. Hoà theo xu thế đó, tốc độ phát triển đô thị đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới môi trường tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và thành phố Thái Nguyên nói riêng.
Trong thời kì đổi mới, nền kinh tế của thành phố phát triển khá nhanh, quá trình phát triển đô thị được đẩy mạnh, đặc biệt Thành phố Thái Nguyên trở thành n 2 đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên môi trường tự nhiên đang bị ô nhiễm đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đối với thành phố và chất lượng cuộc sống của dân cư. Để đảm bảo cho Thành phố Thái Nguyên được mở rộng hơn về quy mô không gian, dân số, cơ sở kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội đạt được sự phát triển bền vững, cần thiết phải nghiên cứu tác động đến môi trường của quá trình phát triển đô thị ở thành phố Thái Nguyên. Điều kiện tối ưu quá trình phát triển đô thị nhằm giữ vững cân bằng và nâng cao chất lượng môi trường sống, bảo đảm sự phát triển bền vững là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong chiến lược phát triển của TP.
Cho đến nay chưa có một nghiên cứu hệ thống về tác động của quá trình phát triển đô thị đến môi trường đất ở thành phố Thái Nguyên. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước trong lĩnh vực môi trường đô thị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Đông Nam và Tây Nam thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013” 1. Mục đích nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Phân tích, đánh giá những tác động của quá trình phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Đông Nam và Tây Nam thành phố Thái Nguyên, làm căn cứ để đề xuất các giải pháp phát triển đô thị, bảo vệ môi trường đất ở thành phố Thái Nguyên.
Mục tiêu cụ thể - Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động đến môi trường của quá trình phát triển đô thị. - Phân tích hiện trạng và những biến đổi của môi trường đất, ảnh hưởng của PTĐT đến môi trường đất ở các phường, xã phía Đông Nam và Tây Nam thành phố Thái Nguyên. - Đề xuất các giải pháp quản lý, giám sát quá trình phát triển đô thị và giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường đất ở thành phố Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm sáng tỏ được những đặc điểm của quá trình phát triển đô thị, hiện trạng và những biến đổi của môi trường đất.
Từ đó góp n 3 phần hoàn thiện về phương pháp luận cũng như phương pháp nghiên cứu về quá trình phát triển đô thị trong xu thế phát triển bền vững. Đề tài đánh giá được những tác động tiêu cực đến môi trường đất của quá trình phát triển đô thị ở các xã, phường phía Đông Nam và Tây Nam, thành phố Thái Nguyên và đề xuất các giải pháp kiểm soát quá trình phát triển đô thị, BVMT nhằm mục đích phát triển đô thị thành phố Thái Nguyên theo hướng bền vững. Đây sẽ là những thông tin hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý đô thị nhằm kiểm soát và có những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất, phát triển đô thị theo hướng bền vững. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Những vấn đề cơ bản về đô thị và quá trình phát triển đô thị 2. Khái quát về đô thị, đô thị hóa và đất đô thị 2. Đô thị và điểm dân cư đô thị Khái niệm đô thị Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. [5] Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay trung tâm tổng hợp; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền, của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện.[2] Khái niệm điểm dân cư đô thị Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị. Mỗi nước có một quy định riêng về điểm dân cư đô thị.Việc xác định quy mô tối thiểu của đô thị phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi nước và tỷ lệ phần trăm dân phi nông nghiệp của đô thị.[5] Quy định về đô thị Ở nước ta theo quy định của Chính phủ, các điểm dân cư được gọi là điểm dân cư đô thị khi thỏa mãn 5 yêu cầu sau đây: 1. Là trung tâm vùng lãnh thổ hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn).
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 65% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị. Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng. Một số đặc điểm của điểm dân cư đô thị a) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở điểm dân cư đô thị chỉ tính trong phạm vi nội thị Lao động phi nông nghiệp bao gồm những lao động làm việc trong các lĩnh vực: - Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
- Lao động xây dựng cơ bản. - Lao động phục vụ: giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng, ngân hàng, thương mại, dịch vụ công, du lịch. - Lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, … - Những lao động khác ngoài nông nghiệp. b) Cơ sở hạ tầng đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị là yếu tố phản ánh mức độ phát triển và tiện nghi sinh hoạt của người dân theo lối sống đô thị.
Cơ sở hạ tầng đô thị gồm: - Hạ tầng kỹ thuật: Giao thông, điện nước, cống rãnh thoát nước, năng lượng và thông tin, vệ sinh môi trường, … - Hạ tầng xã hội: nhà ở tiện nghi, các công trình dịch vụ công cộng, văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, cây xanh, vui chơi giải trí, … c) Mật độ dân cư đô thị Mật độ dân cư là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị, nó được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị tính trên diện tích đất đai nội thị (người/km2 hoặc người/ha). Theo tiêu chuẩn đô thị, các đô thị nước ta chưa đạt đầy đủ các yêu cầu, nhưng chúng đều giữ vai trò là một trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên nghành của một vùng lãnh thổ nhất định. Mặt khác tính chất và lối sống ở các đô thị còn chịu ảnh hưởng nhiều của lối sống nông thôn. Phân loại đô thị Tại Điều 4 Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị quy định: n 6 Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận.
Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.