Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoa dừa cạn (Catharanthus roseus), hay còn gọi là hoa hải đằng, hoa tứ quý, thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae), là loài cây cảnh có giá trị thẩm mỹ cao, màu sắc hoa phong phú (trắng, hồng, đỏ, tím) và có khả năng sinh trưởng quanh năm trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các dòng hoa dừa cạn lai hiện nay, điển hình là nhóm Megabloom, có đặc tính hoa to, tán rộng, kết hợp kỹ thuật ngắt ngọn giúp cây phân nhiều cành cấp 1 và cấp 2, tạo dáng tán cân đối rất phù hợp cho hình thức trồng chậu phục vụ trang trí đô thị và thương mại dịp Tết. Phương thức trồng chậu mang lại nhiều tiện ích kỹ thuật như dễ quản lý độ ẩm, tiết kiệm phân bón, hạn chế mầm bệnh từ đất tự nhiên và thuận lợi cho khâu luân chuyển thương phẩm.

Bên cạnh yếu tố giống và giá thể, chế độ dinh dưỡng giữ vai trò quyết định đến tốc độ sinh trưởng và chất lượng hoa. Việc bổ sung dinh dưỡng qua lá cho phép cây hấp thu nhanh chóng các nguyên tố khoáng và amino acid, nâng cao hiệu suất sử dụng dinh dưỡng lên đến 95% so với phương thức bón qua đất. Trong xu hướng sản xuất nông nghiệp đô thị bền vững, việc ứng dụng các dòng phân bón lá hữu cơ nhằm giảm thiểu phân hóa học vô cơ, hạn chế tồn dư gây hại môi trường và đảm bảo an toàn sinh học là một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, các dẫn liệu khoa học về nồng độ sử dụng thích hợp của phân bón lá hữu cơ Bio trùn quế 01 trên cây dừa cạn trồng chậu còn hạn chế. Do đó, đề tài "Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển của hoa dừa cạn (Catharanthus roseus) trồng chậu tại Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh" do sinh viên Phan Thị Lan Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Phạm Hồng Lan tại Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh đã được tiến hành.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác định nồng độ phân bón lá hữu cơ Bio trùn quế 01 thích hợp giúp cây dừa cạn trồng chậu sinh trưởng, phát triển tối ưu và nâng cao chất lượng hoa thương phẩm.
  2. Theo dõi và đánh giá các nhóm chỉ tiêu: thời gian sinh trưởng và phát triển; các chỉ tiêu nông học (chiều cao cây, đường kính thân, số cành, số lá, đường kính tán); tình hình sâu bệnh hại; các chỉ tiêu phát triển hoa (số nụ, số hoa, tỷ lệ hoa nở, đường kính hoa, độ bền hoa).
  3. Bước đầu tính toán và phân tích hiệu quả kinh tế (tổng chi, tổng thu, lợi nhuận, hệ số VCR) trên quy mô 1.000 chậu hoa dừa cạn tại khu vực Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây hoa dừa cạn giống lai FVIN208 (nhóm Megabloom, hoa màu tím loang trắng, xuất xứ từ Mỹ) và phân bón lá hữu cơ Bio trùn quế 01.
  • Phạm vi không gian: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 08/2022 đến tháng 11/2022.
  • Giới hạn nội dung: Khảo sát 6 nghiệm thức nồng độ phân bón lá (0, 1, 2, 3, 4, 5 mL/L) trên nền giá thể phối trộn cố định và chế độ bón phân nền NPK 16-16-8+TE.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý sinh lý học thực vật về hấp thu dinh dưỡng khoáng và hữu cơ qua khí khổng và lớp biểu bì lá, cùng các đặc tính sinh học của chi Catharanthus. Về mặt nông học, cây dừa cạn là loài ưa sáng (cường độ thích hợp 26.000 - 32.000 Lux), chịu nhiệt tốt (ngưỡng nhiệt độ 10 - 35°C, thích hợp 25 - 30°C), yêu cầu ẩm độ đất 60 - 70% và pH từ 5,4 - 5,8. Về mặt hóa thực vật, dừa cạn chứa các alkaloid quan trọng như vinblastine, vincristine, ajmalicine có giá trị dược liệu cao.

Phân bón lá hữu cơ Bio trùn quế 01 (sản phẩm của Trung tâm Công nghệ Sinh học TP. Hồ Chí Minh) cung cấp các amino acid tự do gồm Aspartic acid (2.000 ppm), Glutamic acid (1.000 ppm), Valine (800 ppm), hàm lượng NPK (5-1-3%) và các vi lượng Bo (200 ppm), Zn (200 ppm), Mg (120 ppm), Ca (120 ppm), Fe (100 ppm), có tác dụng kích thích đâm chồi, phân nhánh và phát triển bộ lá.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (Complete Randomized Design - CRD) với 3 lần lặp lại và 6 nghiệm thức tương ứng với các nồng độ phân bón lá hữu cơ Bio trùn quế 01:
    • B0 (Đối chứng - ĐC): 0 mL/L (chỉ phun nước lã).
    • B1: 1 mL/L.
    • B2: 2 mL/L.
    • B3: 3 mL/L.
    • B4: 4 mL/L.
    • B5: 5 mL/L.
  • Quy mô thí nghiệm: 25 chậu/ô cơ sở, gồm 18 ô cơ sở, tổng cộng 450 chậu (1 cây/chậu). Kích thước chậu nhựa trắng là 18 x 15 x 15 cm (thể tích 3 L). Khoảng cách giữa các chậu là 0,1 m, khoảng cách giữa các ô là 0,5 m, tổng diện tích khu thí nghiệm đạt 39,1 m².
  • Kỹ thuật giá thể và ươm trồng: Hạt được ươm trên khay xốp 112 lỗ bằng giá thể Klasmann, xử lý Trimix B1 (0,5 mL/L) ở 7 ngày sau gieo (NSG). Cây con đủ tiêu chuẩn (20 NSG, cao 5-6 cm, 2-3 cặp lá thật) được chuyển trồng vào chậu chứa hỗn hợp giá thể gồm đất sạch Tribat, xơ dừa (đã khử tanin bằng nước vôi 10%), tro trấu (xả nước giảm EC), vỏ trấu và phân bò hoai mục theo tỷ lệ thể tích 1:1:1:1:1, kết hợp chế phẩm Trichoderma sp. (2 kg/m³). Cây được bổ sung Atonik 1,8SL (1 mL/L) ở 3 ngày sau trồng (NST) để hỗ trợ bén rễ.
  • Chăm sóc và phun xử lý: Ngắt ngọn lần 1 tại thời điểm 8 NST (chừa 3 cặp lá thật) và ngắt ngọn lần 2 tại 22 NST (ngắt cặp lá thật trên cùng của cành cấp 1). Phun phân bón lá thí nghiệm 5 lần định kỳ vào các ngày 7, 14, 21, 28 và 35 NST (liều lượng từ 10 - 25 L/1.000 chậu). Phân nền NPK 16-16-8+TE được bón gốc 5 lần từ 10 NST với tổng lượng 1,5 kg/1.000 chậu.
  • Quản lý sâu bệnh: Phun phòng định kỳ 7 ngày/lần bằng thuốc trừ sâu Reasgant 3,6EC (0,5 mL/L), Tasieu 5,0WG (0,4 g/L) và thuốc trừ bệnh Ridomil Gold 68WG (1 g/L).
  • Xử lý số liệu: Số liệu được tổng hợp trên Microsoft Excel 2010; phân tích phương sai (ANOVA) và trắc nghiệm phân hạng Duncan ở mức ý nghĩa p < 0,05 và p < 0,01 bằng phần mềm thống kê SAS 9.1.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở sinh học và các công trình nghiên cứu liên quan đến cây hoa dừa cạn và phân bón lá:

  • Khái quát nguồn gốc phân loại thực vật của Catharanthus roseus, phân tích các đặc tính hình thái rễ, thân, lá, hoa, quả, hạt và các yêu cầu ngoại cảnh (ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, đất trồng). Phân tích giống lai FVIN208 với ưu điểm đường kính hoa 7-8 cm, chiều cao 20-25 cm, kháng chịu thời tiết nóng ẩm.
  • Tổng quan thành phần hóa học (các alkaloid vinblastine, vincristine tập trung nhiều ở rễ 0,7 - 2,4% và lá 0,37 - 1,15%) và giá trị dược liệu trong y học cổ truyền lẫn hiện đại.
  • Phân tích cơ chế tác động, ưu điểm (hấp thu nhanh, bổ sung amino acid và vi lượng trực tiếp qua lá, giảm rửa trôi) và hạn chế của phân bón lá. Trình bày chi tiết thành phần lý hóa của chế phẩm Bio trùn quế 01.
  • Tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thị Ngọc Trâm (2021) trên hoa mào gà với nồng độ Bio trùn quế 01 tối ưu là 4 mL/L; Huỳnh Hữu Phước (2020) trên hoa chuông đạt hiệu quả tại 3 mL/L; các nghiên cứu của Phạm Thị Lê Nguyên (2019), Nguyễn Thị Kiều Trinh (2016), Trần Thị Linh (2015), Ngô Thị Bích Trâm (2014) và Hà Kim Thanh (2012) khảo sát các dòng phân bón lá Vitamin B-1, Alaska, Tankie-01, Seaweed Super trên cây dừa cạn.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp thí nghiệm

Chương 2 trình bày toàn bộ quy trình thực nghiệm và các tiêu chuẩn phương pháp luận:

  • Phân tích đặc điểm khí hậu tại Thủ Đức trong thời gian thí nghiệm (tháng 08 - 11/2022): Nhiệt độ trung bình dao động 27,9 - 28,5°C; độ ẩm không khí 78,0 - 80,0%; lượng mưa dao động 189,8 - 314,6 mm; tổng giờ nắng từ 136,2 - 177,6 giờ.
  • Kết quả kiểm tra lý hóa tính của vật liệu giá thể trước phối trộn: pH đất/giá thể ở mức trung tính (xơ dừa: 6,6; tro trấu: 7,1; phân bò: 6,2); độ dẫn điện EC đều dưới ngưỡng mặn (< 4 mS/cm); ẩm độ ban đầu dao động 22,8 - 24,2%.
  • Thiết lập chi tiết 5 nhóm chỉ tiêu theo dõi: Thời gian sinh trưởng phát triển (ngày phân cành cấp 1, cành cấp 2, ngày ra nụ, ngày ra hoa, tổng thời gian ST&PT); Chỉ tiêu sinh trưởng (đo chiều cao cây, đường kính thân, số cành, số lá, đường kính tán định kỳ 7 ngày/lần từ 7 đến 42 NST); Ghi nhận tỷ lệ sâu bệnh hại; Chỉ tiêu phát triển hoa (số nụ, số hoa, tỷ lệ hoa nở, đường kính hoa, độ bền hoa); Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (phân cấp chậu loại 1, loại 2, loại 3, tính tổng thu, tổng chi, lợi nhuận và hệ số VCR).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này công bố và thảo luận các số liệu thực nghiệm thu thập được:

  • Thời gian sinh trưởng và phát triển: Tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt 87,5% ở 5 NSG. Nghiệm thức B4 (4 mL/L) cho thời gian xuất hiện cành cấp 1 sớm nhất (10,6 NST) và cành cấp 2 sớm nhất (15,5 NST), sai khác có ý nghĩa thống kê so với đối chứng B0 (11,9 NST và 17,6 NST). Ngày ra nụ (42,8 - 43,6 NST), ngày ra hoa (47,3 - 47,9 NST) và tổng thời gian ST&PT (65,7 - 68,2 ngày) không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức.
  • Động thái tăng trưởng chiều cao cây và đường kính tán: Chiều cao cây ở giai đoạn 7 - 14 NST chưa có sự khác biệt rõ do ảnh hưởng của ngắt ngọn lần 1 ở 8 NST. Từ 21 NST trở đi, sự khác biệt thể hiện rõ rệt: tại 42 NST, nghiệm thức B4 đạt chiều cao cao nhất (28,2 cm), kế đến là B5 (27,8 cm), B3 (27,0 cm), thấp nhất ở đối chứng B0 (25,4 cm). Đường kính tán tại 42 NST ở nghiệm thức B4 đạt cực đại (31,4 cm), sai khác có ý nghĩa so với B0 (30,3 cm).
  • Đường kính thân, số cành và số lá (tại thời điểm 35 NST): Đường kính thân lớn nhất ở B5 (9,2 mm) và B4 (9,0 mm). Số cành trên cây cao nhất ở nghiệm thức B4 (30,2 cành/cây), cao hơn rõ rệt so với đối chứng B0 (27,7 cành/cây). Số lượng lá đạt giá trị cao nhất tại nghiệm thức B4 (152,6 lá/cây), thấp nhất ở B0 (143,8 lá/cây).
  • Tình hình sâu bệnh hại: Ghi nhận sự xuất hiện của sâu xanh bướm phượng (Papilio demoleus) gây hại lá ở 25 và 35 NST, tỷ lệ hại dao động từ 1,4% đến 6,7% (nghiệm thức B4 bị hại 2,1% ở 35 NST). Bệnh héo rũ do Fusarium sp. được khống chế tốt nhờ phun Ridomil Gold định kỳ, không gây chết cây.
  • Chỉ tiêu phát triển hoa: Số nụ đạt cao nhất ở nghiệm thức B4 (55,6 nụ/cây) so với B0 (51,8 nụ/cây). Số lượng hoa nở ghi nhận cao nhất ở B4 (22,1 hoa/cây), sai khác có ý nghĩa thống kê so với B0 (19,2 hoa/cây). Các chỉ tiêu tỷ lệ hoa nở (36,0 - 38,9%), đường kính hoa (5,1 - 5,3 cm) và độ bền hoa (4,4 - 4,9 ngày) không bị ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê bởi nồng độ phân bón lá.
Nghiệm thức (Nồng độ) Chiều cao cây tại 42 NST (cm) Số cành tại 35 NST (cành/cây) Số lá tại 35 NST (lá/cây) Số nụ (nụ/cây) Số hoa (hoa/cây) Tỷ lệ chậu thương phẩm (%) Lợi nhuận (triệu đồng/1.000 chậu) Hệ số VCR (lần)
B0 (0 mL/L - ĐC) 25,4 27,7 143,8 51,8 19,2 88,2 18,0 -
B1 (1 mL/L) 26,7 28,2 146,0 52,9 20,7 89,7 18,5 1,1
B2 (2 mL/L) 26,8 28,7 146,4 53,4 21,0 90,4 18,9 1,7
B3 (3 mL/L) 27,0 29,3 148,9 54,7 21,3 90,9 19,4 2,6
B4 (4 mL/L) 28,2 30,2 152,6 55,6 22,1 93,5 20,3 4,0
B5 (5 mL/L) 27,8 29,8 151,3 54,6 21,5 91,3 19,2 2,1
  • Hiệu quả kinh tế trên quy mô 1.000 chậu: Phân loại xuất vườn ghi nhận nghiệm thức B4 cho tỷ lệ chậu thương phẩm cao nhất (93,5%, gồm 720 chậu loại 1 và 215 chậu loại 2). Tổng chi phí đầu tư ở B4 là 7,3 triệu đồng, tổng thu đạt 27,5 triệu đồng, mang lại lợi nhuận cao nhất là 20,3 triệu đồng/1.000 chậu và tỷ số sinh lời biên VCR đạt 4,0 lần (mỗi 1 đồng chi phí phân bón lá tăng thêm mang lại 4,0 đồng lợi nhuận tăng thêm).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã rút ra các kết quả cụ thể và đóng góp khoa học - thực tiễn sau:

  1. Xác lập nồng độ phân bón tối ưu: Nghiên cứu đã chứng minh nồng độ phân bón lá hữu cơ Bio trùn quế 01 thích hợp nhất cho giống hoa dừa cạn FVIN208 trồng chậu là 4 mL/L. Ở nồng độ này, cây đạt các chỉ số sinh trưởng và phát triển vượt trội: phân cành cấp 1 sớm (10,6 NST), phân cành cấp 2 sớm (15,5 NST), chiều cao cây đạt 28,2 cm, số cành đạt 30,2 cành/cây, số lá đạt 152,6 lá/cây, đường kính tán đạt 31,4 cm, số nụ đạt 55,6 nụ/cây, số hoa nở đạt 22,1 hoa/cây.
  2. Khẳng định hiệu quả kinh tế: Xử lý phân bón lá ở nồng độ 4 mL/L giúp nâng tỷ lệ chậu thương phẩm lên 93,5%, đem lại tổng thu 27,5 triệu đồng và lợi nhuận 20,3 triệu đồng trên 1.000 chậu, với hệ số VCR đạt mức cao nhất (4,0 lần), vượt xa so với đối chứng không phun phân bón lá (lợi nhuận 18,0 triệu đồng).
  3. Đóng góp vào cơ sở dữ liệu canh tác: Bổ sung dẫn liệu thực nghiệm chính xác về phản ứng của giống dừa cạn lai FVIN208 đối với chế phẩm Bio trùn quế 01. Kết quả này chỉ ra rằng nồng độ tối ưu trong điều kiện thực tế (4 mL/L) cao hơn nhẹ so với khuyến cáo chung của nhà sản xuất (2,1 - 3,0 mL/L), cung cấp căn cứ điều chỉnh kỹ thuật canh tác hoa chậu đô thị tại TP. Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai:

  • Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trong một mùa vụ duy nhất (từ tháng 08 đến tháng 11 năm 2022) thuộc giai đoạn mùa mưa tại TP. Hồ Chí Minh với ẩm độ không khí cao (78 - 80%), chưa đánh giá được phản ứng của cây vào mùa khô hoặc các điều kiện vi khí hậu khác nhau.
  • Đề tài chỉ khảo sát một dòng phân bón lá hữu cơ (Bio trùn quế 01) và một công thức phối trộn giá thể cố định (1:1:1:1:1) trên duy nhất giống dừa cạn FVIN208.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục bố trí lặp lại thí nghiệm ở các mùa vụ khác nhau trong năm (đặc biệt là vụ hoa Tết chính vụ và vụ mùa khô) để kiểm chứng độ ổn định của nồng độ 4 mL/L.
  • Mở rộng thử nghiệm kết hợp giữa nồng độ phân bón lá Bio trùn quế 01 với các tỷ lệ phối trộn giá thể hoặc các giống dừa cạn khác nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất hoa dừa cạn trồng chậu thương phẩm chất lượng cao.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Nông học, Trồng trọt, Hoa viên cảnh quan và Công nghệ sinh học nông nghiệp: Cung cấp mẫu hình chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm đơn yếu tố (CRD), quy trình theo dõi các chỉ tiêu nông học định kỳ, phương pháp xử lý số liệu bằng SAS (ANOVA, Duncan) và phương pháp hạch toán kinh tế (VCR).
  • Cơ sở sản xuất và nhà vườn hoa kiểng đô thị: Tham khảo chi tiết quy trình kỹ thuật xử lý nguyên liệu giá thể (ngâm vôi khử tanin trong xơ dừa, xả nước hạ EC tro trấu, ủ hoai bằng Trichoderma), kỹ thuật bấm ngọn 2 lần định kỳ và lịch trình phun phân bón lá 4 mL/L kết hợp phòng trừ sâu bệnh sinh học để đạt tỷ lệ chậu thương phẩm trên 93%.

Câu hỏi thường gặp

1. Nồng độ phân bón lá hữu cơ Bio trùn quế 01 nào cho hiệu quả tối ưu nhất trong nghiên cứu? Nồng độ 4 mL/L (nghiệm thức B4) là nồng độ tối ưu nhất, giúp cây đạt chiều cao 28,2 cm, số cành 30,2 cành/cây, số lá 152,6 lá/cây, 22,1 hoa/cây, tỷ lệ chậu thương phẩm đạt 93,5%, lợi nhuận 20,3 triệu đồng/1.000 chậu và hệ số VCR đạt 4,0 lần.

2. Quy trình ngắt ngọn cây dừa cạn trong thí nghiệm được tiến hành như thế nào? Kỹ thuật ngắt ngọn được thực hiện 2 lần bằng tay: Lần 1 vào thời điểm 8 ngày sau trồng (ngắt ngọn thân chính, chừa lại 3 cặp lá thật); Lần 2 vào thời điểm 22 ngày sau trồng (ngắt bỏ cặp lá thật trên cùng của tất cả các cành cấp 1) nhằm kích thích phân cành cấp 2 và tạo bộ tán tròn đều.

3. Thành phần và tỷ lệ phối trộn giá thể trồng dừa cạn gồm những gì? Giá thể trồng chậu được phối trộn theo tỷ lệ thể tích 1:1:1:1:1 gồm đất sạch Tribat, xơ dừa (ngâm nước vôi 10% trong 7 ngày và xả nước sạch 7 ngày), tro trấu (xả nước sạch 7 ngày để giảm EC), vỏ trấu và phân bò hoai mục, kết hợp bổ sung 2 kg chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma sp. cho 1 m³ giá thể.

4. Những đối tượng sâu bệnh hại chính nào đã xuất hiện và biện pháp quản lý ra sao? Sâu hại chính là sâu xanh bướm phượng (Papilio demoleus) cắn phá lá ở 25 và 35 NST, được kiểm soát dưới mức 7% bằng cách phun luân phiên thuốc trừ sâu sinh học Tasieu 5,0WG (0,4 g/L) và Reasgant 3,6EC (0,5 mL/L). Bệnh hại tiềm năng là bệnh héo rũ (Fusarium sp.) được phòng ngừa định kỳ bằng Ridomil Gold 68WG (1 g/L).

5. Hiệu quả kinh tế của nghiệm thức tối ưu (4 mL/L) vượt trội hơn nghiệm thức đối chứng (0 mL/L) ở những chỉ số nào? So với đối chứng B0 (phun nước lã), nghiệm thức B4 (4 mL/L) tăng tỷ lệ chậu thương phẩm từ 88,2% lên 93,5%, tăng tổng thu từ 25,2 triệu lên 27,5 triệu đồng và tăng lợi nhuận thuần từ 18,0 triệu lên 20,3 triệu đồng trên quy mô 1.000 chậu, đạt tỷ suất lợi nhuận biên VCR là 4,0 lần.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Lan Anh đã giải quyết hoàn chỉnh vấn đề thực nghiệm về xác định nồng độ phân bón lá hữu cơ cho hoa dừa cạn giống FVIN208 trồng chậu tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc phun bổ sung chế phẩm Bio trùn quế 01 ở nồng độ 4 mL/L định kỳ 7 ngày/lần giúp tối ưu hóa khả năng phân cành, tăng trưởng số lá, nâng cao số lượng nụ hoa và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với lợi nhuận 20,3 triệu đồng/1.000 chậu (VCR = 4,0 lần). Đề tài đóng góp quy trình canh tác và hạch toán kinh tế rõ ràng, có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nghề trồng hoa cảnh đô thị.