Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng lên sự biến động năng lượng dự trữ và hoạt tính enzyme glutathione s transferase của cá chép và cá rô phi trong lưu vực sông nhuệ đáy

Nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng đến năng lượng dự trữ và hoạt tính enzyme glutathione s transferase ở cá chép, cá rô phi.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sinh thái học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2014

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về các loài cá nghiên cứu

1.2. Các cơ quan trong cá và các chỉ thị sinh học thường được sử dụng trong nghiên cứu độc học sinh thái

1.3. Ảnh hưởng của kim loại nặng đối với cá

1.4. Sự tích lũy của kim loại nặng trong cơ thể cá

1.5. Ảnh hưởng của tích lũy kim loại nặng lên protein - nguồn năng lượng dự trữ quan trọng ở cá

1.6. Ảnh hưởng của tích lũy kim loại nặng lên hoạt tính của enzyme glutathione S-transferase (GST)

1.7. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp thu mẫu

2.3. Chuẩn bị mẫu phân tích

2.4. Phân tích mẫu

2.5. Phân tích kim loại nặng

2.6. Phân tích protein

2.7. Phân tích GST

2.8. Phân tích và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Phân tích và đánh giá nồng độ kim loại nặng tích tụ trong cá. Biến động của sự tích lũy kim loại nặng trong các mô phân tích theo mùa

3.2. Sự tích lũy kim loại nặng trong các mô phân tích theo mặt cắt

3.3. Sự thay đổi của nồng độ protein - nguồn năng lượng dự trữ trong cơ thể cá theo mặt cắt

3.4. Sự biến động của hoạt tính enzyme GST tính trên 1 g trọng lượng tươi theo mặt cắt

3.5. Hoạt tính enzyme GST tính trên 1 mg protein theo mặt cắt

3.6. Mối tương quan giữa nồng độ kim loại nặng với nồng độ protein và hoạt tính GST

3.7. Tương quan giữa nồng độ kim loại nặng với nồng độ protein

3.8. Tương quan giữa nồng độ kim loại nặng tích lũy và hoạt tính enzyme GST

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng ô nhiễm kim loại nặng lên cá chép và cá rô phi

Ô nhiễm kim loại nặng đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong môi trường nước, đặc biệt là trong các lưu vực sông. Cá chép (Cyprinus carpio) và cá rô phi (Oreochromis niloticus) là hai loài cá phổ biến trong các hệ sinh thái nước ngọt. Nghiên cứu cho thấy rằng ô nhiễm kim loại nặng có thể gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe và sự phát triển của các loài cá này. Các kim loại như chì (Pb), cadmium (Cd), đồng (Cu) và kẽm (Zn) có thể tích tụ trong cơ thể cá, ảnh hưởng đến các chỉ số sinh lý và sinh hóa của chúng.

1.1. Ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng đến sức khỏe cá chép

Cá chép là loài nhạy cảm với ô nhiễm kim loại nặng. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ kim loại nặng cao có thể dẫn đến sự suy giảm sức khỏe, bao gồm rối loạn miễn dịch và giảm khả năng sinh sản. Các enzyme như glutathione S-transferase (GST) có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến sự giảm khả năng chống lại stress oxy hóa.

1.2. Tác động của ô nhiễm đến cá rô phi và môi trường sống

Cá rô phi cũng không ngoại lệ trước tác động của ô nhiễm kim loại nặng. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ kim loại nặng trong môi trường sống của cá rô phi có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản của chúng. Việc tích tụ kim loại nặng trong cơ thể cá có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của cá và an toàn thực phẩm cho con người.

II. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước

Ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt trong các khu vực có hoạt động công nghiệp và nông nghiệp phát triển. Các nguồn ô nhiễm chính bao gồm nước thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp và rửa trôi từ đất. Những kim loại nặng này không chỉ ảnh hưởng đến cá mà còn đến toàn bộ hệ sinh thái nước.

2.1. Nguồn gốc và nguyên nhân ô nhiễm kim loại nặng

Các nguồn ô nhiễm kim loại nặng chủ yếu đến từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Nước thải từ các nhà máy, chất thải từ nông nghiệp và rửa trôi từ đất đều góp phần làm tăng nồng độ kim loại nặng trong nước. Điều này dẫn đến sự tích tụ trong các loài cá và ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng.

2.2. Hệ quả của ô nhiễm kim loại nặng đối với sinh thái

Ô nhiễm kim loại nặng không chỉ ảnh hưởng đến cá mà còn đến toàn bộ hệ sinh thái nước. Sự tích tụ kim loại nặng trong chuỗi thức ăn có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến sức khỏe của các loài động vật khác và con người. Điều này đặt ra thách thức lớn cho việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng

Để đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng lên cá chép và cá rô phi, các phương pháp nghiên cứu khoa học đã được áp dụng. Các mẫu cá được thu thập từ các khu vực khác nhau trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy và phân tích nồng độ kim loại nặng, protein và hoạt tính enzyme GST.

3.1. Phương pháp thu mẫu và phân tích

Mẫu cá được thu thập từ các khu vực khác nhau trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Các mẫu này sau đó được phân tích để xác định nồng độ kim loại nặng, protein và hoạt tính enzyme GST. Phương pháp này giúp đánh giá chính xác mức độ ô nhiễm và tác động của nó đến sức khỏe cá.

3.2. Phân tích số liệu và kết quả

Số liệu thu thập được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định mối tương quan giữa nồng độ kim loại nặng và các chỉ số sinh lý của cá. Kết quả cho thấy có sự tương quan rõ rệt giữa nồng độ kim loại nặng và sự suy giảm sức khỏe của cá chép và cá rô phi.

IV. Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ kim loại nặng trong cơ thể cá chép và cá rô phi có sự biến động theo mùa và theo mặt cắt. Sự tích tụ kim loại nặng trong các mô cá có thể ảnh hưởng đến nồng độ protein và hoạt tính enzyme GST, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của cá.

4.1. Biến động nồng độ kim loại nặng theo mùa

Nghiên cứu cho thấy nồng độ kim loại nặng trong cơ thể cá chép và cá rô phi có sự biến động theo mùa. Mùa hè thường có nồng độ kim loại nặng cao hơn do sự gia tăng hoạt động công nghiệp và nông nghiệp. Điều này có thể dẫn đến sự suy giảm sức khỏe của cá trong mùa này.

4.2. Tương quan giữa nồng độ kim loại nặng và hoạt tính GST

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa nồng độ kim loại nặng và hoạt tính enzyme GST trong cơ thể cá. Sự gia tăng nồng độ kim loại nặng dẫn đến sự giảm hoạt tính GST, cho thấy cá đang phải đối mặt với stress oxy hóa và các vấn đề sức khỏe khác.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng lên cá chép và cá rô phi đã chỉ ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe và sự phát triển của các loài cá này. Việc hiểu rõ hơn về vấn đề này là cần thiết để phát triển các biện pháp bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường nước

Bảo vệ môi trường nước là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe của các loài cá và an toàn thực phẩm cho con người. Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng cần được thực hiện để bảo vệ hệ sinh thái nước.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng và đánh giá tác động của chúng đến sức khỏe sinh lý của các loài cá. Điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng lên sự biến động năng lượng dự trữ và hoạt tính enzyme glutathione s transferase của cá chép và cá rô phi trong lưu vực sông nhuệ đáy

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Kim loại nặng (KLN) là thành phần đặc trưng của các chất thải công nghiệp. Hiện nay, các ngành công nghiệp của Việt Nam đều đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển và chưa có đủ các phương tiện cần thiết để giảm và loại trừ ảnh hưởng xấu của chất thải công nghiệp đến môi trường. Mặt khác, các chế tài về xử phạt môi trường còn chưa nghiêm. Do vậy, sự ô nhiễm kim loại nặng trong các thuỷ vực ngày càng trở nên trầm trọng.

Các kim loại này khi được thải vào nước làm cho nước bị nhiễm bẩn, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và các loài sinh vật sống trong nước. Các kim loại nặng khi đã được phóng thích vào môi trường thì sẽ tồn tại lâu dài, tích tụ vào các mô sống của sinh vật qua chuỗi thức ăn mà ở đó con người là mắt xích cuối cùng. Các kim loại Cd, Pb, Cu, Zn đều là các kim loại có độc tính cao đối với sinh vật và con người nếu vượt quá ngưỡng cho phép. Mặc dù nồng độ các chất độc tích tụ trong cơ thể sinh vật chưa cao nhưng khi tồn tại và tích tụ lâu dài, chúng có thể làm tổn thương sinh vật ở các mức độ khác nhau hoặc thậm chí có thể gây chết.

Với số dân lên tới hơn 10 triệu người từ 6 tỉnh, thành phố, đặc biệt có thủ đô Hà Nội sống trong lưu vực sông (LVS) Nhuệ - Đáy, nên hoạt động kinh tế xã hội nói chung, nông nghiệp và thuỷ sản nói riêng, gắn liền với LVS là rất lớn, thêm vào đó là sự tăng nhanh về nhu cầu nuôi trồng, đánh bắt cũng như sử dụng thuỷ sản làm nguồn thực phẩm. Sự ô nhiễm KLN trong nước sông và bùn đáy có nguồn gốc từ sự rửa trôi trong nông nghiệp, chất thải sinh hoạt, làng nghề và đặc biệt là từ các nhà máy và các khu công nghiệp. Hiện trạng này có thể dẫn tới sự tích tụ sinh học trong các loài cá tự nhiên và các loài cá nuôi lấy nguồn nước từ sông. Tùy theo mức độ tích tụ, nó có thể có tác động xấu tới sức khoẻ sinh lý của cá (ức chế và gây rối loạn miễn dịch, mất cân bằng nội tiết hoặc bị stress về mặt sinh lý), làm thay đổi các thông số sinh hoá trong các mô và máu (Basa và Rani, 2003) hoặc ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản và sự phát triển bền vững của quần đàn cá tự nhiên cũng như nghề nuôi trồng thuỷ sản (NTTS).

Hơn nữa, vấn đề về vệ sinh an toàn 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực phẩm và sức khoẻ người tiêu dùng không được đảm bảo khi tiêu thụ các sản phẩm nhiễm độc KLN này. Trước tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng trong LVS, Chính phủ và một số cơ quan hữu quan đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá hiện trạng môi trường trên hệ thống sông Nhuệ - Đáy cũng như hiện trạng môi trường nước phục vụ NTTS. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chủ yếu chú trọng vào việc đánh giá mức độ ô nhiễm do tác động của các nhà máy, làng nghề, nước thải sinh hoạt, dựa vào tiêu chuẩn nước sinh hoạt, nước dùng cho NTTS và nước thải. Trong khi đó, những nghiên cứu về ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng lên sức khoẻ sinh lý của một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế trong lưu vực sông Nhuệ-Đáy hầu như chưa được tiến hành.

Chính vì vậy, việc nghiên cứu“Ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại nặng lên sự biến động năng lượng dự trữ và hoạt tính enzyme glutathione S-transferase của cá chép (Cyprinus carpio) và cá rô phi (Oreochromis niloticus) trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy” là việc làm cần thiết, nhằm góp phần thúc đẩy và phát triển nghề NTTS bền vững, và phục vụ cho việc nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm của người dân. Nghiên cứu được thực hiện nhằm các mục tiêu sau: - Đánh giá sự tích tụ KLN (Cu, Pb, Zn và Cd) trong mang, gan, thận của cá chép và cá rô phi theo mùa và theo mặt cắt trong khu vực nghiên cứu. - Phân tích sự biến động của nồng độ protein và hoạt tính GST trong cùng mẫu cá phân tích kim loại nặng. - Bước đầu xác định tương quan giữa nồng độ kim loại nặng tích tụ với nồng độ protein và hoạt tính GST trong cùng mẫu cá phân tích.

2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI IỆU 1. Tổng quan về các loài cá nghiên cứu 1. Đặc điểm phân loại và phân bố Cá chép là một loài cá nước ngọt phân bố rộng rãi ở khắp các ao, hồ, sông suối giàu chất dinh dưỡng [32]. Phân loại: Giới: Animalia (động vật) Ngành: Chordata (động vật có dây xương) Lớp: Actinopterygii (lớp cá vây tia) Bộ: Cypriniformes (bộ cá chép) Họ: Cyprinidae (họ cá chép) Giống: Cyprinus (cá chép) Loài: Cyprinus carpio.

Thân cá hình thoi, mình dây, dẹp bên. Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng. Đầu cá thuôn, cân đối, mõm tù, có hai đôi râu: râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt. Mắt vừa phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu.

Khoảng cách hai mắt rộng và lồi. Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt. Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Môi dưới phát triển hơn môi trên.

Màng mang rộng gắn liền với eo. Lược mang ngắn, thưa. Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ. Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa.

Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó. Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hóa xương rắn chắc và phía sau có răng cưa. Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn. Vây đuôi phân thuỳ sâu tương đối bằng nhau.

3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vẩy tròn lớn. Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi. Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài. Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc.

Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen. Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam [3, 5]. Cá chép phân bố rộng trên thế giới, trừ Nam Mỹ, Madagasea và châu Úc, Tây Bắc Mỹ. Cá sống tự nhiên hay nuôi trong các ao, đầm, hồ [2, 48].

Ở Việt Nam, cá chép có nhiều dạng hình khác nhau: Chép Bạc, Chép Kính, Chép Đen, Chép Hồng, Chép Hoa, Chép Lưng Gù, Chép Cẩm. Một vài đặc điểm sinh học Cá chép có thể sống sót trong môi trường có độ mặn lên đến khoảng 5‰, pH tối ưu của 6,5 - 9,0 [48] và nhiệt độ 0 - 40°C. Nhiệt độ nước dao động từ 20°C đến 27°C là điều kiện tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cá chép [5]. Cá chép có thể tồn tại trong điều kiện nồng độ oxy thấp (0,3 - 0,5 mg/l) cũng như quá bão hòa [48].

Cá chép là sinh vật sống ở tầng đáy và chủ yếu là ăn tạp, chúng thường ăn các loài động vật như côn trùng nước, giun, động vật thân mềm, và động vật phù du. Ngoài ra, cá chép còn ăn thân, lá và hạt của cây thủy sinh và trên cạn, thực vật thủy sinh mục nát, giáp xác. Cá chép có kích thước ở mức trung bình, con to nhất có thể đạt 15 – 20 kg. Tốc độ tăng trưởng giảm cùng với sự gia tăng chiều dài [7].

Thành phần cấu trúc của các loài cá chép sông Hồng đều nằm trong nhóm 7 tuổi. Cá chép thành thục sau khi được 1 tuổi. Chúng có thể mang một số lượng trứng rất lớn, khoảng 150. Mùa sinh sản kéo dài từ mùa xuân đến mùa thu, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhưng chủ yếu tập trung vào các tháng của mùa xuân đến mùa hè (từ tháng 3 đến tháng 6) và mùa thu (từ tháng 8 đến tháng 9).

Trứng cá chép rất dính. Sau khi đẻ, trứng bám vào cây thủy sinh. Trên sông, cá thường di chuyển đến bờ sông, nơi mà chúng có thể tìm thấy nhiều thực vật thủy sinh hơn. Cá thường đẻ rất nhiều trứng vào ban đêm, đặc biệt là từ nửa đêm đến bình minh hoặc sau các trận mưa lớn [5].

Đặc điểm phân loại và phân bố Cá rô phi là một loài cá nhiệt đới thích sống ở vùng nước nông, là một trong những loài thủy sản phát triển nhanh nhất trên thế giới [46]. Ở Việt Nam, loài rô phi được nuôi phổ biến nhất là cá rô phi sông Nile – rô phi vằn (Oreochromis niloticus). Phân loại cá rô phi sông Nile: Giới: Animalia (động vật) Ngành: Chordata (động vật có dây xương) Lớp: Actinopterygii (lớp cá vây tia) Bộ: Perciformes (Bộ cá Vược) Họ: Cichlidae Giống: Oreochromis Loài: Oreochromis niloticus. 2: Oreochromis niloticus (Nguồn ảnh: Danon J.

Moxley) Cá rô phi có thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên. Miệng rộng hướng ngang, rạch kéo dài đến đường thẳng đứng sau lỗ mũi một ít. Hai hàm dài bằng nhau, môi trên dầy. Lỗ mũi gần mắt hơn mõm.

Mắt tròn ở nửa trước và phía 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên của đầu. Khoảng cách hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi. Khởi điểm vây lưng ngang với khởi điểm vây ngực, trước khởi điểm vây bụng. Vây ngực nhọn, dài, mềm.

Vây bụng to cứng, chưa tới lỗ hậu môn. Toàn thân phủ vẩy, ở phần lưng có màu sang, vàng nhạt hoặc xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc màu xanh nhạt. Trên thân có từ 6 - 8 vạch sắc tố chạy từ lưng xuống bụng. Các vạch sắc tố ở các vây đuôi, vây lưng rõ ràng hơn.

Toàn thân phủ vảy, ở phần lưng có màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc xanh nhạt. Trên thân có từ 7 - 9 vạch chạy từ phía lưng xuống bụng. Các vạch đậm dọc theo vây đuôi ở từ phía lưng xuống bụng rất rõ [1]. Một vài đặc điểm sinh học Cá rô phi là loài cá ăn tạp, khẩu phần ăn của chúng bao gồm hỗn hợp tảo phù du, động vật phù du, giun đất, côn trùng dưới nước, mùn bã hữu cơ và có khi cả phân hữu cơ.

Mặc dù không thể chắt lọc qua khe mang, nhưng chúng có thể tiết ra chất nhầy từ mang để bẫy sinh vật phù du một cách hiệu quả. Nhiệt độ gây chết ngưỡng trên và dưới của cá rô phi là 11 - 12°C và 42°C, nhiệt độ tối ưu trong khoảng 31 - 36°C. Thành thục sinh dục ở độ tuổi 5 - 6 tháng. Sinh sản bắt đầu khi nhiệt độ nước đạt đến 24°C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ