Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn góc, đặc điểm thực vật học và giá trị kinh tế cây hoa hồng 1.1 Nguồn gốc và đặc điểm thực vật học Nguồn gốc hoa hồng: Hoa hồng đã được các nền văn minh cổ đại Trung Quốc, Tây Á và Bắc Phi trồng cách đây 5000 năm và được mô tả từ thế kỷ 16 trước Công nguyên (Shepherd, 1954). Người Hy Lạp và Trung Quốc thời cô đại dùng hoa hồng để trang trí ở các lăng mộ, đồng thời, hoa hồng được tượng trưng cho sự huyền bí ở La Mã và sự yên tinh ở Ai Cap (Rowley, 1966). Serge (2000) nghiên cứu có 8 nhóm hoa hồng cô xưa, từ chúng hình thành nên nhiều giống hoa hồng phô biến trên thé giới sau này (Bảng 1. Nhóm có nguồn gốc từ Trung Quốc Rosa bracteata (1675), Rosa sericea ptericantha (1890) và Rosa wichuraiana variegata (1890).
Nhóm có nguồn gốc từ Nhật Ban Rosa rugosa. Nhóm có nguồn góc từ Bắc My Rosa foliolosa (1880), Rosa woodsiifendleri (1895) và nhóm phát sinh từ cực Bắc ban cau Rosa nutkana.1 Nguồn gốc một số loài hoa hồng trên thé giới TT Loài Nguồn gốc Năm nghiên cứu 1 Rosa bracteata Trung Quéc 1675 2 Rosa foliolosa Bac My 1880 3. Rosa nutkana Tay Bac My 1876 4 Rosa bracteata Trung Quéc 1675 5 Rosa rugosa Nhat Ban 1890 6 Rosa sericea ptericantha Trung Quéc 1890 7 Rosa wichuraiana variegata Trung Quéc 1890 8 Rosa woodsii fendleri Bac My 1895 Đặc điểm thực vật học của Tầm xuân (Rose canina) Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), Tầm xuân thuộc dạng leo, nhánh không có lông, gai cong. Lá có 5 — 7 lá phụ không có lông, day ta, phiến lá có răng cưa; cuống có lông và gai, lá bẹ dính trọn vào cuốn, có rìa lông.
Hoa dạng chum tụ tán màu trang, rộng 2 — 3 cm; dai có lông nằm, tai thon nhọn, có phụ bộ; cánh hoa đầu lõm; vòi nhuy thường dính nhau. Giả quả tròn, đen, không có lá đài. Tầm xuân mọc nhiều ở hàng rào và khu lim bụi, phổ biết ở các tinh phía Bắc và Bắc trung bộ. Đặc điểm thực vật học hoa hồng Valentine’s Day Hoa hồng Valentine’s Day thuộc nhóm hồng Floribundas (giống hồng có nhiều mau sắc khác nhau, là loài lai giữa hồng Rosa chinensis Jacq và hồng dai Rosa odorata (Andrews) Sweet), là một trong các dạng hoa hồng leo thường được trồng chậu hoặc trồng trong vườn nhà và nơi công cộng (Watson và cs, 1972; Zlesak, 2007).
Nhóm hồng Floribundas có cây cao trung bình, kích thước hoa trung bình, có vài hoa/canh và thường phổ biến (Cairns, 2000).2 Giá trị kinh tế hoa hồng Hoa Kỳ là một trong những thị trường có hoa cắt cành đa dạng nhất, với tất cả các loại hoa tươi đến từ khắp nơi trên thế giới. Hoa hồng là loại hoa tươi cắt cành hàng đầu được sản xuất và tiêu thụ tại Hoa Kỳ (tính theo giá trị) và vào năm 2001, chiếm gần 30% các lô hàng hoa tươi cắt cảnh (US International Trade Commission, 2003). Theo Hoang Ngọc Thuận (2005) thì thành phó Hồ Chi Minh là thị trường tiêu thụ hoa lớn của Việt Nam. Nhu cầu tiêu dùng hoa cắt cành từ 35.
Trong khi 2 vùng chuyên canh hoa Sa Déc và Gò Vấp chỉ cung cấp được 10.000 cành/ngày nên cần phải lấy thêm từ các vùng khác như: Đà Lạt, Đài Loan, Hà Lan cho thấy giá trị kinh tế của cây hoa hồng là rất lớn. Pháp là thị trường tiêu thụ hoa cắt cành lớn thứ ba trong Liên minh Châu Âu và là nhà nhập khẩu hoa cắt cành lớn thứ tư của EU. Nhập khẩu tăng lên tới 417 triệu euro vào năm 2006. Các mặt hàng nhập khẩu chính bao gồm hoa hồng (loại hoa cắt cành phổ biến nhất ở Pháp), hoa tulip, hoa lan, hoa cúc và hoa cam chướng.
Các nhà cung cấp chính là Hà Lan (chiếm một phan đáng kề khoảng 80% thị trường) tiếp theo là Ý và Tây Ban Nha (Khodarchenko, 2010). Tại Ấn Độ, ngành trồng hoa được xác định là lĩnh vực có tiềm năng xuất khâu lớn, trong khi thị trường hoa trên thế giới đang phát triển, cầu đang vượt cung và nhu cầu thế giới ước tính sẽ tăng từ 15 — 25% mỗi năm. Tuy nhiên số lượng hoa hồng cắt cành tại Ấn Độ không nhiều và trồng tập trung ở miền Nam Ấn Độ. Đồng thời hiện nay nước này đang áp dụng các mô hình canh tác hiện đại như trồng nhà kính dé tối đa hoá sản lượng hoa hồng vì tiềm năng thu lợi nhuận cao hơn so với các loại cây trồng nông nghiệp khác (Sudhagar, 2013).
Cho đến thời điểm hiện tại, hoa hồng trên thế giới vẫn được trồng chủ yếu làm hoa cắt cành, ngoài ra còn dùng trồng chậu làm cảnh và chế biến tinh dầu. Tại Anh, doanh thu hoa hồng trồng chậu đạt 892 triệu bảng, tăng 5% so với 2015 (Matthew Appleby, 2017). Tai Bulgari và Thổ Nhĩ Kỳ là 2 quốc gia nồi tiếng về trồng hoa hồng dé chế biến tinh dau thì sản lượng tinh dau hoa hồng hang năm ước đạt khoảng 1,5 tấn (ITC, 2014; Dang Văn Đông, 2017). Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Rau quả năm 2018, khoảng 95% diện tích hoa hồng trồng tại Mê Linh — vùng sản xuất hoa hồng lớn nhất của miền Bắc là hoa cắt cành, chỉ có 5% diện tích là hoa hồng trồng chậu nhưng hiệu quả kinh tế của hoa hồng trồng chậu cao hơn 10-20% so với hoa hồng cắt cành (Nguyễn Thị Thanh Tuyền và cs, 2018).2 Yêu cau ngoại cảnh của hoa hong Theo Nguyễn Xuân Linh (1998), yêu cầu ngoại cảnh của hoa hồng như sau: Ánh sáng: Hồng là cây ưa sáng, ánh sáng đầy đủ giúp sinh trưởng tốt, thiếu ánh sáng, cây sẽ bị tiêu hao nhiều chất dự trữ trong cây.
Khi cây còn nhỏ, yêu cầu về cường độ ánh sáng thấp hơn, khi tuổi cây càng cao yêu cầu ánh sáng nhiều hơn. Cây hoa hồng yêu cầu thời gian chiếu sáng thích hợp từ 8 - 12h/ngày. Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho cây, có tới 90% chất khô trong cây là do quá trình quang hợp tạo nên. Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho hồng sinh trưởng và phát triển tốt là từ 18- 25°C.
Nhiệt độ trên 38°C va đưới 8°C đều làm ảnh hưởng đến cây. Giai đoạn ra hoa, nhiệt độ quá cao và kéo dài làm ảnh hưởng đến độ bền của hoa và rút ngắn tudi thọ của hoa. Nhiệt độ quá thấp, cành nhánh phát sinh yếu, hoa lá giòn, cây thấp, nụ hoa không nở hay nở muộn. CO;: là yêu tố quan trọng sau nhiệt độ và ánh sáng.
Lượng CO› ảnh hưởng tới quang hợp, sinh trưởng và phát duc. Các loại hoa có 2 phản ứng với việc bô sung CO2 ; phản ứng trực tiếp tức làm tăng quang hợp, tích luỹ chất khô và phản ứng gián tiếp là phản ứng hình thái với đặc trưng là làm tăng sự nảy mầm và tăng số lượng hoa. Độ âm: Độ âm có ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây hoa hồng thông qua độ âm không khí và độ âm đất. Cây hoa hồng yêu cầu độ âm đất khoảng 60 - 70%, độ âm không khí 80 - 85%.
Trong điều kiện thích hợp cây sinh trưởng phát triển tốt, ít sâu bệnh, chất lượng cao. Đất: Đất là một trong những yếu tố môi trường rất quan trọng với sự sinh trưởng, phát triển của thực vật nói chung. Là nơi nâng đỡ, cung cấp nước và chất dinh dưỡng, không khí cho cây trồng. Đất trồng hồng tốt nhất là đất den đá vôi (đất Macgarit) hoặc đất đồi giàu mùn, loại đất này kết cấu viên tốt, khả năng giữ mùn tốt, thoáng khí, có lợi cho sự phát triển của rễ: Cây hoa hồng yêu cầu đất nhiều mùn, nhẹ và thoát nước tốt, pH = 5,5 - 6,5.3 Phương pháp nhân giống vô tính hoa hồng Tuy hoa hồng là một loài cây lâu năm nhưng càng về sau thì sức sinh trưởng cũng như tuôi thọ của cây càng giảm.
Vì vậy, khoảng 3-5 năm phải trồng thay thế và nhân giống vô tính được chọn, phương pháp này giúp cây trồng có thé giữ được đặc tính của cây bố mẹ. Từ những cây với các tính trạng tốt được chọn ra, nhờ nhân giống vô tính, sẽ nhân nhanh và duy trì được tính trạng đó qua các thế hệ. Do đó, nhân giống vô tính rất có ý nghĩa trong công tác chọn tạo giống, nhất là việc nhân giống bằng hạt khó khăn như cây hoa hồng. Cây hoa hồng có thé nhân giống vô tính bang kỹ thuật: giâm cành, chiết cành, ghép cành, hoặc áp dụng kĩ thuật nuôi cấy mô.1 Giâm cành Theo Đặng Văn Đông và cs (2002) nhiều giống hoa hồng và Tầm xuân dễ ra rễ bất định.
Sau khi lay một đoạn cành cắm vào đất, lúc đầu từ tượng tầng sẽ sinh ra mô sẹo, rồi từ mô sẹo phân hoá ra rễ. Ưu điểm: không phải chuẩn bị gốc ghép, dé chăm sóc, ít tốn nhân lực, cây giâm cành ít bị thoái hoá, chu kỳ khai thác dài và tiện lợi cho việc điều tiết sinh trưởng. Nhược điểm: nhiều giống khó ra rễ, khi áp dụng kỹ thuật giâm cành sẽ kém hiệu quả. Theo Dao Mai (2008), với bat kỳ phương pháp giâm hoa hồng nao, một van đề quan trọng và tiên quyết là khả năng ra rễ của giống.
Các giống hoa hồng có thé cat giâm ở hầu hết các tuôi cây, nhưng tốt nhất là chọn cành giâm có tuổi sinh lý trẻ. Can chú ý, đối với những giống ra hoa liên tục nên cat thân dé giâm lúc có ít hoa hoặc khi cánh hoa rụng. Những giống ra hoa một lần, chú ý cắt thân vào thời điểm ít hoa trong mùa xuân. Ngoài ra dé cành giâm ra rễ nhanh, phải dé lại một số lá trên cành giâm.
Hầu hết các giống hoa hồng khi giâm không cần xử lý hoocm6n, bởi vì cành giâm có chứa IAA một chất kích thích ra rễ tự nhiên (Hoàng Minh Tan và Nguyễn Quang Thạch, 1993). Các yếu tố ảnh hưởng đến cành giâm: Độ ẩm: cần giữ cành giâm có độ âm không khí cao, nếu thiếu độ âm, cành giâm sẽ rụng lá ảnh hưởng đến việc tạo rễ, tỷ lệ chết sẽ cao (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Giá thé: vật liệu vừa dam bảo tơi xốp, có khả năng thoát nước tốt và tinh giữ âm cao. Khi cắt cành giâm phải khử trùng dụng cụ bằng dung dịch Formol 5% hoặc 10% muối NaCl ngâm 8-10 phút (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003).2 Ghép cành Theo Huỳnh Văn Thới (2005) ghép là tach rời một mắt ghép, hoặc chồi non ở nách lá hoặc một đoan thân non của cây có hoa đẹp đặt vào một cây khác có sức sống khoẻ và bền, mắt ghép tiếp tục sống nhờ vào cây gốc ghép.