MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống của nhân dân ta, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh những giống lợn ngoại có năng suất sinh sản cao trên thế giới như Yorkshire, Landrace.Chúng ta đã có những tổ hợp lợn lai như: ngoại lai ngoại, ngoại lai nội và những giống lợn nội có năng suất cao thích nghi tốt với điều kiện sinh thái và tập quán chăn nuôi truyền thống của nhân dân ta. Lợn Móng Cái là 1 giống lợn có từ lâu đời được nuôi phổ biến ở Trung du Miền núi phía Bắc nước ta, có tính chịu đựng kham khổ cao, dễ nuôi, mắn đẻ, đẻ nhiều con.
Tuy vậy, năng suất chăn nuôi lợn nái Móng Cái những năm vừa qua hiệu quả còn chưa cao, nguyên nhân là do chúng được nuôi chủ yếu trong các hộ nông dân, người chăn nuôi chỉ dựa vào kinh nghiệm với hình thức chăn nuôi tận dụng. Quá trình chọn lọc, nhân giống và chăm sóc nuôi dưỡng lợn từ hậu bị đến sinh sản chưa đúng quy trình kỹ thuật.Đặc biệt chế độ dinh dưỡng không hợp lý nên trong quá trình nuôi ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng khi phối giống lần đầu, làm chất lượng và khả năng sinh sản của lợn rất kém và chất lượng đàn con của các thế hệ sau không đạt năng suất cao. Lợn cái hậu bị thay thế đàn đóng một vai trò quan trọng trong chăn nuôi lợn nái. Chính vì thế, việc đưa đàn lợn hậu bị vào đàn giống là nhằm đảm bảo năng suất sinh sản đạt được tối đa.
Để đạt được mục đích này lợn hậu bị phải đáp ứng đủ những chỉ tiêu như độ tuổi, khối lượng cơ thể và sinh lý thành thục trước khi chọn giống cũng như cân đối lượng thịt nạc và mỡ tích luỹ tối ưu tại thời điểm phối giống đầu tiên. Lợn cái hậu bị mà quá gầy tại thời điểm chọn lọc đưa vào đàn giống có thể giới hạn về năng suất sinh sản trong vòng đời của chúng (hoặc khả năng sinh sản thấp hoặc loại thải sớm) do chúng không đáp ứng đủ lượng mỡ dự trữ trong cơ thể. Ngược lại, lợn cái hậu bị quá béo lại hạn chế về khả năng thụ thai, làm cho số con sơ sinh/ổ thấp, khối lượng sơ sinh/con và khối lượng sơ sinh/ổ của lợn nái bị ảnh hưởng. Lượng mỡ dự trữ ở lợn cái hậu bị thường được biểu hiện bằng độ dày mỡ lưng.
Vì vậy, một điều quan trọng để đảm bảo lợn cái hậu bị đưa vào đàn giống có tuổi thọ kéo dài và năng suất sinh sản cao thì chúng cần đáp ứng đủ lượng nạc và mỡ dự trữ. Điều này đặt ra một câu hỏi cho các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 2 nhà nghiên cứu dinh dưỡng gia súc là làm thế nào để cung cấp đủ nhu cầu năng lượng và protein cho lợn cái hậu bị nhằm cân đối và đáp ứng tối ưu lượng thịt nạc và mỡ dự trữ trong cơ. Thông thường tuổi thành thục về tính của gia súc sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc. Khi lợn cái mới thành thục về tính, tuy các cơ quan sinh dục đã phát triển hoàn chỉnh và có khả năng giao phối nhưng thể vóc chưa phát triển đầy đủ, chưa dự trữ đủ dinh dưỡng để mang thai do vậy không nên cho phối giống.
Nếu cho phối giống quá sớm lợn con đẻ ra không nhiều, con yếu ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ cũng như thời gian sử dụng của con giống sau này. Nhưng nếu phối giống cho lợn nái quá muộn hoặc nuôi lợn quá béo, khối lượng cơ thể lớn thì không những lãng phí thức ăn mà trong những kỳ động dục lợn ít ăn, không ăn hoặc phá phách nên ảnh hưởng đến sinh trưởng. Vì vậy, một điều quan trọng để đảm bảo lợn cái hậu bị đưa vào đàn giống có tuổi thọ kéo dài và năng suất sinh sản cao thì cần xác định được chế độ dinh dưỡng hợp lý để cho lợn hậu bị phát triển tốt và đạt được khả năng sinh sản ở đúng độ tuổi, đồng thời phải xác định được khối lượng thích hợp khi phối giống lần đầu cho lợn cái hậu bị để chúng đạt được độ thành thục về thể vóc. Từ thực tế trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định được ảnh hưởng của các mức năng lượng, protein cho lợn Móng Cái giai đoạn hậu bị và khối lượng khi phối giống lần đầu đến khả năng sinh sản của lợn Móng Cái. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Là một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về sự liên quan giữa chế độ dinh dưỡng giai đoạn hậu bị đến khả năng sinh trưởng, sinh lý sinh dục và năng suất sinh sản lần đầu của lợn Móng Cái thuần chủng trong điều kiện chăn nuôi nông hộ. - Xác định được ảnh hưởng của khối lượng khi phối giống lần đầu đến khả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 3 năng sinh sản của lợn Móng Cái, làm cơ sở cho công tác chọn giống và giúp cho người chăn nuôi có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng lợn Móng Cái hậu bị hợp lý đảm bảo lợn nái có năng suất sinh sản cao. - Xây dựng và đề xuất chế độ dinh dưỡng hợp lý và một số khẩu phần thức ăn dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương để nâng cao khả năng sinh sản của lợn Móng Cái ở lứa tuổi phối giống lần đầu và làm cơ sở cho những lần tiếp theo.
- Kết quả của đề tài nghiên cứu là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời góp phần thêm những tư liệu để tham khảo, nghiên cứu và giảng dạy trong các nhà trường, cán bộ chăn nuôi cơ sở và người chăn nuôi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc và đặc điểm sinh học, sinh lý, sinh dục của lợn Móng Cái Các giống vật nuôi địa phương đã được hình thành từ lâu đời trong hoàn cảnh các nền sản xuất kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi với các tập quán canh tác khác nhau của các vùng sinh thái Nông nghiệp khác nhau. Đặc điểm chung của các giống địa phương thường là có hướng sản xuất kiêm dụng.
Vì vậy, tầm vóc nhỏ, năng suất thấp. Tuy nhiên, ưu điểm lớn nhất của các giống địa phương là phù hợp với điều kiện sản xuất chăn nuôi, tận dụng điều kiện thiên nhiên cũng như sản phẩm phụ của cây trồng, thích ứng với môi trường khí hậu nóng ẩm, khả năng chống chịu bệnh tật cao. Từ năm 1975 lợn Móng Cái được lan nhanh ra các tỉnh miền Bắc và miền Trung nước ta. Nguồn gốc lợn Móng Cái Lợn Móng Cái là giống lợn phổ biến nhất của Việt Nam, có nguồn gốc từ huyện Hà Cối, nay thuộc huyện Đầm Hà và Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh hiện nay được nuôi nhiều ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh Trung du, miền núi phía Đông Bắc nước ta (Nguyễn Văn Đức, 2007) [14].
Đặc điểm sinh học của lợn Móng Cái Lợn Móng Cái thuộc lớp động vật có vú Maminalia, bộ guốc chẵn Artiodactyla, thuộc họ Sllidae, chủng Sus, thuộc loài Sus domesticus (Nguyễn Văn Đức 2007) [14]. Lợn Móng Cái có ngoại hình đặc trưng: lông da có màu đen vá trắng. Lưng và mông có dải đen hình yên ngựa (đây là đặc điểm ngoại hình nổi bật nhất), da mỏng mịn, lông thưa và thô. Đầu to, đen, có đốm trắng ở giữa trán hình tam giác hoặc hình thoi.
Tai đen, nhỏ và nhọn. Miệng nhỏ dài, trắng, có nếp nhăn to và ngắn ở miệng. Giữa vai và cổ có một vành trắng cắt ngang kéo dài đến bụng và bốn chân. Cổ to, ngắn.
Ngực nở và sâu. Lưng dài hơi võng, bụng xệ nhưng tương đối gọn, mông rộng và xuôi. Bốn chân trắng, tương đối cao, thẳng, móng xoè. Nhìn chung, lợn Móng Cái có khả năng sinh sản tốt (đẻ 11 - 16 con/lứa), có từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 12 - 16 vú, tuổi phối lần đầu tiên có hiệu quả nhất từ 6 - 8 tháng, số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ cao, trung bình từ 9 đến 11 con.
Khối lượng sơ sinh thấp: 0,5 - 0,6 kg và khối lượng cai sữa lúc 45 - 50 ngày, 5 - 6 kg/con. Số lứa đẻ khá cao, trung bình từ 1,9 - 2,1 lứa/năm. Lợn Móng Cái có khả năng sinh sản kéo dài, cho 10 - 15 lứa/nái. Khả năng tăng khối lượng 327g/ngày, lợn thịt có tốc độ tăng trọng 390 - 420g/ngày.
Khả năng tiêu tốn thức ăn 5,0 - 5,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, tỉ lệ thịt nạc thấp 35 - 39%, độ dày mỡ lưng cao. Hiện nay, lợn Móng Cái chủ yếu được sử dụng làm nái nền lai với lợn đực ngoại sản xuất lợn lai F1 nuôi thịt hoặc dùng làm nái trong các công thức lai phức tạp. + Tuổi thành thục về tính Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và khả năng sinh sản. Ở gia súc, tuổi thành thục về tính có các biểu hiện như sau: Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng, con đực sinh tinh.
Tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ tinh. Các đặc tính sinh dục thứ cấp bắt đầu các phản xạ sinh dục. Con cái động dục, con đực có phản xạ giao phối. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, lợn nái trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, thì sẽ thành thục về tính ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày, với trọng lượng 80 kg.
Nhưng nếu chúng ta cho lợn ăn hạn chế thì sẽ là 234,8 ngày, với trọng lượng 48,4 kg. Dinh dưỡng tốt thì sẽ rút ngắn được thời gian thành thục về tính từ 4 - 16 ngày so với mức chỉ đáp ứng được 60 - 70% nhu cầu dinh dưỡng. Mùa vụ: lợn con đẻ vào mùa đông thì thành thục sớm hơn về mùa hè Nói cách khác, thành thục về tính của gia súc cái được đánh giá bằng hiện tượng động dục và rụng trứng. Lợn cái sau khi thành thục về tính thì biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường không rõ ràng và tiếp sau đó ở các kỳ sau sẽ dần đi vào quy luật.
Tùy thuộc vào loại gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau.