Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của liều lượng uniconazole và thời điểm xử lý kno3 đến sự ra hoa của xoài đài loan mangifera indica l tại huyện chợ mới tỉnh an giang

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của liều lượng uniconazole và thời điểm xử lý kno3 đến sự ra hoa của, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2022

88
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây xoài

1.2. Nguồn gốc và phân loại

1.3. Tình hình canh tác xoài trên thế giới

1.4. Tình hình canh tác xoài trong nước

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

2.1. Thời gian và địa điểm thực hiện thí nghiệm

2.2. Điều kiện thí nghiệm

2.2.1. Điều kiện thời tiết

2.2.2. Điều kiện canh tác

2.3. Các hoạt chất sinh trưởng sử dụng trong thí nghiệm

2.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.5. Phương pháp tiến hành

2.6. Các chỉ tiêu về hoa

2.7. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của UCZ đến các chỉ tiêu chồi trên xoài Đài Loan tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

3.1.1. Ảnh hưởng của UCZ đến hình thái chồi trên xoài Đài Loan tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

3.1.2. Khoảng cách giữa hai cành

3.2. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến quá trình ra hoa - đậu quả của giống xoài Đài Loan tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

3.2.1. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến thời gian ra hoa - đậu quả

3.2.2. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến tỷ lệ ra hoa (%)

3.2.3. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến số chồi ra hoa, số phát hoa và số hoa trên phát hoa

3.2.4. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến chiều dài và đường kính của phát hoa

3.2.5. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến tỷ lệ hoa đực và hoa lưỡng tính

3.2.6. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến tỷ lệ đậu quả (%)

3.2.7. Ảnh hưởng của UCZ và thời điểm xử lý KNO3 đến số chùm quả trên cây và số quả trên chùm

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Uniconazole Đến Sự Ra Hoa Của Xoài Đài Loan

Xoài Đài Loan (Mangifera indica L.) là một trong những giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh An Giang. Việc áp dụng các hoạt chất điều hòa sinh trưởng như Uniconazole (UCZ) đã được nghiên cứu để cải thiện năng suất và chất lượng hoa. Nghiên cứu này nhằm xác định tác động của UCZ đến sự ra hoa của xoài Đài Loan, từ đó giúp nông dân tối ưu hóa quy trình canh tác.

1.1. Nguồn Gốc Và Tình Hình Canh Tác Xoài Đài Loan Tại An Giang

Xoài Đài Loan được trồng phổ biến tại An Giang, với diện tích lớn và năng suất cao. Việc áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại, bao gồm việc sử dụng Uniconazole, đã giúp nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.2. Tác Động Của Hormon Thực Vật Đến Sự Ra Hoa

Hormon thực vật như Uniconazole có vai trò quan trọng trong việc kích thích sự ra hoa của cây trồng. Nghiên cứu cho thấy UCZ có thể thay thế Paclobutrazol trong việc xử lý ra hoa cho xoài Đài Loan.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Việc Sử Dụng Uniconazole

Mặc dù Uniconazole mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc sử dụng không đúng cách có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng. Nông dân cần hiểu rõ về liều lượng và thời điểm xử lý để đạt được hiệu quả tối ưu.

2.1. Những Rủi Ro Khi Sử Dụng Uniconazole

Việc lạm dụng Uniconazole có thể gây ra tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. Cần có các nghiên cứu sâu hơn để đánh giá an toàn của hoạt chất này.

2.2. Thách Thức Trong Việc Đảm Bảo Tỷ Lệ Ra Hoa Cao

Một trong những thách thức lớn là đảm bảo tỷ lệ ra hoa cao và đồng loạt. Việc xác định thời điểm xử lý KNO3 cũng như liều lượng UCZ là rất quan trọng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Uniconazole

Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, với các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên. Mục tiêu là xác định liều lượng Uniconazole và thời điểm xử lý KNO3 để tối ưu hóa sự ra hoa của xoài Đài Loan.

3.1. Thiết Kế Thí Nghiệm Và Phương Pháp Thực Hiện

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên với nhiều mức liều lượng UCZ và thời điểm xử lý khác nhau. Điều này giúp đánh giá chính xác tác động của UCZ đến sự ra hoa.

3.2. Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Trong Nghiên Cứu

Các chỉ tiêu như tỷ lệ ra hoa, số chồi ra hoa và số hoa trên phát hoa được theo dõi để đánh giá hiệu quả của Uniconazole trong việc kích thích ra hoa.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ảnh Hưởng Của Uniconazole

Kết quả cho thấy Uniconazole có tác động tích cực đến sự ra hoa của xoài Đài Loan. Liều lượng 2,5 g a.i/m đường kính tán cây kết hợp với xử lý KNO3 ở thời điểm 60 ngày cho tỷ lệ ra hoa cao nhất.

4.1. Tỷ Lệ Ra Hoa Và Đậu Quả

Tỷ lệ ra hoa đạt 30,74%, cao gấp 1,7 lần so với đối chứng. Số chồi ra hoa và số hoa trên phát hoa cũng tăng đáng kể, cho thấy hiệu quả của UCZ.

4.2. So Sánh Kết Quả Giữa Các Mức Liều Lượng

Kết quả cho thấy liều lượng UCZ 2,5 g a.i/m đường kính tán cây cho kết quả tốt nhất, vượt trội hơn so với các mức liều lượng khác.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Uniconazole

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng Uniconazole có thể là một giải pháp hiệu quả trong việc kích thích sự ra hoa của xoài Đài Loan tại An Giang. Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình và đảm bảo an toàn cho môi trường.

5.1. Tương Lai Của Việc Sử Dụng Uniconazole Trong Nông Nghiệp

Việc áp dụng Uniconazole trong nông nghiệp có thể mở ra nhiều cơ hội mới cho nông dân, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

5.2. Đề Xuất Các Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động lâu dài của Uniconazole đến môi trường và sức khỏe con người, từ đó đưa ra các khuyến nghị hợp lý cho nông dân.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây xoài 1.1 Nguồn gốc và phân loại Xoài là loại cây ăn quả nhiệt đới, có nguồn gốc từ Ấn Độ chạy dài đến Miến Điện và được trồng hơn 4. Tiềm năng thương mại của xoài là rất lớn, Việt Nam xuất khẩu sang các nước như Hồng Kông (31,43 tấn), Australia (18,04 tấn), Singapore (§,28 tấn) và mở rộng thêm thị trường Châu Âu, Nga, Trung Quốc, Campuchia với xoài Cát Bồ, Cát Chu. Những nước có diện tích trồng xoài lớn như An Độ, Philippines (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003). Ở nước ta, đến nay vẫn chưa có thông tin chính xác về việc cây xoài xuất hiện, những bằng chứng cho thấy cây xoài đã xuất hiện lâu đời như: ở Đồng Bằng Bắc Bộ, xoài được trồng rất lâu quanh đình, chùa dé lay bóng mát, có cây lên đến hàng trăm năm tudi.

Ở Bắc bộ, xoài được trồng chủ yếu là những giống xoài dại, giống xoài địa phương như: xoài Trứng, xoài Hôi,. Nhưng khí hậu miền Bắc không thuận lợi dé trồng xoài nguyên nhân là do vào vụ mùa chính của xoài là vào tháng 11 đến tháng 4 dương lịch xoài sẽ gặp thời tiết lạnh (gió mùa đông bắc) lúc ra hoa dẫn đến việc xoài sẽ không đậu trái được. Các tỉnh miền Trung ít chịu ảnh hưởng gió màu đông bắc nhưng lượng mưa cuối năm là rất lớn, nên nụ hoa khó hình thành, dẫn đến việc xoài chưa trồng được nhiều vì chưa có giống trồng thích hợp. Khu vực Nam Trung bộ, ưu tiên phát triển cây lương thực và cây công nghiệp nên việc canh tác xoài vẫn còn hạn chế.

Vùng ĐBSCL đứng đầu về diện tích và sản lượng trồng xoài của cả nước hơn 50% về diện tích và sản lượng. Các tỉnh trồng nhiều như Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long (Nguyễn Văn Luật và ctv, 2009). Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003), diện tích trồng xoài khoảng 40.700 ha, riêng ở ĐBSCL là 12. Cây xoài thuộc Ngành (Plantae): Magnoliophyta, Lớp (Phylum): Magnoliopsida, Phân lớp (Class): Rosidae, Bộ (Order): Rutales, Ho (Family): Anacardiaceae, Chi (Genus): Mangifera, Loai (Species): indica, Tén khoa hoc: Mangifera indica L (Lê Thi Trung, 2003).2 Tinh hình canh tác xoài trên thế giới Cây xoài được trồng rộng rãi tại 60 quốc gia thuộc nhiệt đới và bán nhiệt đới với sản lượng hàng năm 28.848,000; bên cạnh đó, Lê Văn Tổ và ctv (2006), trên thế giới có 87 nước trồng xoài với diện tích 1,8 - 2,2 triệu ha.

Vùng Châu A chiếm 2/3 diện tích trồng xoài trên thế giới với 9,3 triệu tấn. Xoài được trồng nhiều tại các quốc gia như: Thái Lan, Pakistan, Philippin, miền nam Trung Quốc, Zimbabue, Ghine, Nam Phi, Keynia, Ai Cập, Brazin, Mehico, Hoa Kỳ.3 Tình hình canh tác xoài trong nước ĐBSCL với tông diện tích gần 4 triệu ha, vùng khí hậu gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 24 — 27°C. Các yếu tô như ánh sáng, gid, 4m độ, bức xạ mặt trời, mang tính ồn định thuận lợi cho sản xuất cây ăn quả trên diện tích rộng với tông diện tích cây ăn quả là 175,670 ha, chiếm 50,7% diện tích cây ăn quả của cả nước. Điều này nói lên tầm quan trọng của ngành trồng cây ăn quả nhiệt đới ở ĐBSCL.

Trong đó, có một số giống cây được trồng phố biến như: Cam Mật, Cam Sành, Cam Soàn, Quýt Xiêm, Quýt Tiéu, Quýt Duong, Bưởi Nam Roi, Bưởi Da Xanh, Chanh Tàu, Chanh Giấy, Hạnh, Xoài, Mit (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003) Giống cây xoài rất phong phú và đa dạng. Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1999) được trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003) đã ghi nhận 43 giống xoài được trồng ở ĐBSCL. Có một số giống đặc trưng như xoài Cát Hòa Lộc, xoài Mộng Dừa, Cát Chu, Bưởi, Thanh Ca, Hồng Võ. Với nhiệt độ từ 24 — 27°C là điều kiện lý tưởng và thuận lợi nhất dé phát triển và canh tác cây xoài.

Tuy nhiên, nhiệt độ cao (46°C), hoặc nhiệt độ thấp (5 — 10°C) xoài cũng có thể chịu đựng được. Thời gian lạnh kéo dài ảnh hưởng đến cây như rụng lá, rụng hoa, ảnh hưởng đến sự phát triển của trái. Gió là nguyên nhân gây nên rụng hoa, rụng trai. Cây xoài chịu đựng được phẻn trong đất khá, nhiều giống cây xoài mọc tốt ở vùng đất phèn Đồng Tháp Mười, bán đảo Cà Mau của ĐBSCL (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003).

Cây xoài được trồng 4 khắp nơi trên cả nước, từ Bắc tới Nam nhưng tập trung nhiều nhất ở miền Đông Nam Bộ và ĐBSCL (Lê Văn Tố và ctv, 2006; Trần Văn Hâu và ctv, 2015). Ở Tiền Giang xoài cát Hòa Lộc trồng tập trung tại huyện Cái Bè với khoảng hơn 1.000 ha, sản lượng hàng năm khoảng 15. Xoài cát Hòa Lộc có nhiều dịch hại làm giảm năng suất và phẩm chất trái như ruồi đục quả là dịch hại quan trọng, là đối tượng kiểm dịch khi xuất khâu (Trần Văn Hâu và ctv, 2015). Diện tích trồng vú sữa đã đạt 2.385 ha với 22 sản lượng thu hoạch đạt 35.

Việc phát triển vườn cây ăn quả còn gắn liền với các mô hình dé tăng hiệu qua sử dụng đất và tăng hiệu quả kinh tế cho người nông dân. Người nông dân ngoài việc trồng các loại cây ăn quả mang tính đặc sản còn có thể kết hợp giữa trồng trọt với trồng trot, trồng trọt với chăn nuôi, trong trọt với thủy sản,. Tiêu biéu nhất cho các loại mô hình như VAC (Vườn — Ao — Chuồng) hay VACB (Vườn — Ao — Chuồng — Biogas). Những mô hình này mang tính bền vững, hiệu quả kinh tế cao cũng như không làm ô nhiễm môi trường (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003).4 Tinh hình canh tác xoài tai An Giang Diện tích trồng cây ăn quả tăng mạnh trong những năm gần đây với năm 2015 là 11.687,7 ha đến năm năm 2019 tăng lên 18.

Đến năm 2021 An Giang đã chuyên đồi 34,100 ha diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng rau mau và cây ăn quả.200 ha được chuyên đổi trồng các loại cây ăn quả như chuối, xoài, mít, nhãn, sầu riêng và nhóm cây có múi. Trong đó diện tích được chuyên đổi sang trồng xoài, đặc biệt là giống xoài Đài Loan là lớn nhất (Công thông tin điện tử An Giang, 2021). An Giang là một tỉnh trọng điểm ở khu vực ĐBSCL trong sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây, cây ăn quả được xem là nguồn thu nhập chính cho người dân.

Tổng giá trị ngành trồng trọt toàn tỉnh là 31.241,955 tỷ đồng, trong đó cây ăn quả đóng góp 1.052,512 tỷ đồng với tổng diện tích gieo trồng là 9. Cùng với đó, những năm gần đây trên địa bàn tinh dang có sự chuyền dich cơ cau cây trồng rất mạnh mẽ. Hệ quả của sự chuyền dịch là sự thay đôi về diện tích và cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh. Diện tích trồng lúa giảm 42.888 ha từ năm 2016 đến năm 2019; diện tích trồng rau màu thay đồi liên tục qua các năm từ 2015 đến 2019 (diện tích lớn nhất được ghi nhận là 36.873,5 ha vào năm 2015, thấp nhất là năm 2017 là 32.639,4 ha va tăng trở lại vào 5 2019 là 35.085,4 ha); Diện tích gieo trồng cây ăn quả tăng mạnh trong giai đoạn 2015 đến 2019 (tăng 6.

Riêng diện tích trồng xoài tăng hơn 5.000 ha, điều này đã cho thấy người nông dân An Giang đã quyết định chọn cây xoài trong tat cả các loại cây ăn qua là loại chủ lực dé thay thế cây lúa và các loại cây trồng khác (Cục thống kê tỉnh An Giang, 2019). Điều đó đã cho thấy cây ăn quả là một trong những loại cây trồng đang được các bà con nông dân trên địa bàn tỉnh tin tưởng và mạnh dạn đầu tư và chuyên sang canh tác gắn bó lâu dài và mang lại lợi nhuận cao.5 Tình hình canh tác xoài tại Chợ Mới — An Giang Chợ Mới là một trong những huyện đã đi đầu trong sự chuyên dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh. Trong giai đoạn 2015 - 2019 cụ thể diện tích trồng lúa giảm 4.488 ha; diện tích trồng cây hằng năm giảm 13.033,6 ha; diện tích trồng lâu năm tăng 3.369,5 ha; diện tích trồng cây ăn qua tăng 3.361,9 ha (trong đó diện tích trồng xoài tăng 2. Riêng trên địa bàn huyện có đến 6.096,3 ha trồng xoài trên tong diện tích trồng cây ăn quả của huyện là 7.010,2 ha chiếm 86,96%; đứng đầu và vượt xa các huyện (thị, thành phố) khác về diện tích và sản lượng xoài (chiếm 54,54% về diện tích và 57,20% về sản lượng) vào năm 2019.

Huyện cũng đứng đầu về diện tích trồng các loại cây ăn quả khác như cam, quít, bưởi,. Diện tích trồng xoài trên địa bàn huyện là rất lớn hình thành một vùng tập trung trồng xoài Dai Loan tại Cù Lao Giêng — Chợ Mới với diện tích 6. Đến tháng 6 năm 2021, diện tích trồng cây ăn quả tiếp tục tăng lên 7.583 ha, trong đó diện tích trồng xoài chiếm 6.6 Đặc tính thực vật học Rễ: Phần lớn rễ phân bố ở tầng đất từ 0 - 50 em ở những vùng có mực nước ngầm thấp hay dat cát, rễ có thé ăn rat sâu (6 - 8 m) va lan xa tới 9 m. Tuy nhiên, phan lớn rễ tập trung trong phạm vi cách gốc khoảng 2 m.

Sự phân bố của rễ còn phụ thuộc vào đặc điểm và độ âm của đất. Do có bộ rễ phát triển nên xoài là cây chịu hạn rất tốt (Nguyễn Văn Kế và Thái Nguyễn Diễm Hương, 2019). Thân, tán cây: Cây thân gỗ lớn, tán rộng cây trồng bằng hạt có thể cao đến 30 - 40 m và có thé sống rất lâu 100 - 300 năm. Tuy nhiên, các giống ghép tán hẹp, cây thấp (10 - 15 cm) dạng tán hình cầu.

Thân san sùi các vết nứt doc theo thân (Nguyễn Văn Kế và Thái Nguyễn Diễm Hương, 2019). Lá và tán lá: Dài 15 - 40 cm, rộng 7 - 7,5 cm mọc trên các long ngắn và mọc nhiều hơn trên các cành có hoa, lá mọc thành từng đợt. Mỗi năm có từ 2 - 4 kỳ ra lá. Cứ một kỳ lá lại có một kỳ nghỉ, mỗi kỳ xuất lá làm đọt ra dài 50 - 60 em.

Mầm đọt nở ra chậm cho tới khi có vài lá cuối mầm xuất hiện rồi bất chợt trong một vải ngày một chùm từ 7 - 12 lá mọc ra và lớn nhanh, lá non có màu đỏ tím, hồng.và mềm khoảng 15 ngày sau nó có màu xanh lợt thì mới bắt đầu quang hợp, trong thời gian ấy lá dài rộng đầy đủ và khoảng một tháng sau mới xanh cứng. Những lá già hơn tám tháng tudi thì không còn quang hợp nữa, nó ăn bám và chờ rụng (Nguyễn Văn Kế và Thái Nguyễn Diễm Hương, 2019).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ