phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chơng, 12 tiết. TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến triết lý nhân sinh, triết lý nhân sinh Phật giáo, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo ở Hà Nội 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến triết lý nhân sinh và TLNSPG * Các công trình nghiên cứu nóc ngoài Trong ngôn ngữ nớc ngoài, nhất là ở phơng Tây thờng chỉ có một thuật ngữ đề nói về triết học với t cách “hệ thống lý luận chung nhất của con ngời về thế giới và về vị trí của con ngời trong thế giới”.
Khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, tùy vào từng bối cảnh cụ thê thuật ngữ này đợc dịch nghĩa thành hai khái niệm triết học hay triết lý. Vì thế, đối với các công trình nghiên cứu ở nớc ngoài, để tìm hiểu những t tởng về TLNSPG chúng tôi đã tham khảo các nghiên cứu trực tiếp về triết học Phật giáo. Trớc hết là cuốn Buddhist Philosophy: A historical analysis [165] cua tác giả David J. Trong cuốn sách này, tác giả đã chi ra Nhân — Quả là khái niệm trung tâm của hệ thống triết học Phật giáo.
Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra ba khái niệm cơ bản khác trong triết học Phật giáo là Nghiệp báo, Luân hồi và Niết Bàn. Ở đây tác giả nỗ lực xóa bỏ quan niệm sai lầm rằng Phật giáo theo chủ nghĩa quyết định luận bằng cách phân tích logic và dẫn chứng trực tiếp từ các nguồn tài liệu trong các bản kinh Phật bằng tiếng Pali. Cuốn Lời giáo huấn của Phật đà [118] của tác giả Walpola Rahula (1999) đành chơng VI để phân tích cụ thể về nhân sinh quan Phật giáo. Bằng việc khẳng định, “Phật giáo không công nhận vai trò tạo dựng của Thợng dé và cũng không nơng nhờ vào hồng ân của Thợng đế” [118, tr.117], tác giả đã chỉ ra Phật giáo coi con ngời cũng là một chúng sinh tồn tại trên cõi đời rồi tan biến hủy diệt vào cõi nh vô trong qui luật của luân hồi.
Những nội 14 dung cơ bản trong nhân sinh quan Phật giáo đợc Wapola Rahula phân tích là Vô ngã luận, Duyên khởi luận. Cuốn sách Buddhism as Philosophy: An Introduction [169] của tác giả Mark Siderits (2007). Theo Siderits “học thuyết về nghiệp báo và sự tái sinh” là nội dung cơ bản nhất của triết học Phật giáo. Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra t tởng cơ bản của Phật giáo thời kỳ đầu là Bát Chính đạo, Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Tam độc, học thuyết về nghiệp báo và luân hồi, về sự khổ (Suffering), hoc thuyét về vô thong (Impermanent), v6 nga (Nonself).
Siderits đã nhấn mạnh rằng dò các trờng phái sau này của Phật giáo đã phát triển vot lên những t tởng ban đầu nhng có “những t tởng nền tảng mà tất cả các trờng phái triết học Phật giáo đều thống nhất thừa nhận là nội dung cơ bản của Phật giáo sơ kỳ” [169, tr.Laumakis (2008) trong cuốn An Iwroduction to Buddhist Philosoohy [166] đã gọi toàn bộ t tởng triết học Phật giáo bằng thuật ngữ Dhamma, trong đó phân tích chỉ tiết về Dhamma gồm Nghiệp báo — luân hồi, thuyết Nhân quả, vô thờng, vô ngã và tính Không, Giải thoát và Niết Bàn. Cuốn sách này còn khẳng định con đờng trung đạo của Phật giáo và gọi Đức Phật là ngời khai sáng (the Awakened One) trong tôn giáo và các vấn đề triết học. Cuén sdch A Companion to Buddhist Philosophy [163] do Steven M.Emmanuel (2013) chu bién tap hop cac bai viết của nhiều nhà nghiên cứu về triết học Phật giáo trong đó khẳng định “giá trị của Phật giáo cần phải đợc hiểu gắn liền với bối cảnh và mục đích của nó là đến giải thoát, đạt đợc đến Niết Bàn” [163, tr. Trong công trình này, các tac gid cing thống nhất rằng nguồn gốc và cội rễ của sự vô thờng của thế giới là bởi luật nhân quả.
Cuốn Đại cơng Triết học Phật giáo [84] của tác giả ngời Trung Quốc Tong Duy Kiều (2016) khi phân tích các t tởng triết học Phật giáo đã đa ra hai nội dung cơ bản: Một là giáo lý của Phật giáo với hai thuyết Thuyết duyên khởi (trọng tâm chính là định luật nhân quả) và Thuyết thật 15 tong (bản thể thực tại của vũ trụ); Hai là giải thoát của Phật giáo trong đó có sự đối sánh giữa “chủ nghĩa tiêu cực Tiểu Thừa” và “chủ nghĩa tích cực Đại thừa” trong giải quyết vấn đề về xuất phát điểm, thật chất và hình thức giải thoát. Đặc biệt, tác giả cũng cho rằng lập trờng của triết học Phật giáo là nhất nguyên luận và phiếm thần luận. Yamakami Sogen (2016) trong bài viết Nguyên lý vô thờng trong triết học Phật giáo [121] khẳng định ba nguyên lý căn bản của Phật giáo là vô thờng, vô ngã và Niết Bàn tịch tịnh. Ba nguyên lý này dựa trên toàn bộ cấu trúc của đạo Phật: Phật giáo Nguyên Thủy, Phật giáo Tiêu thừa và Phật giáo Đại thừa.
Trên cơ sở luật Nhân quả, tác gia khang dinh sự vô thờng của sinh diệt, vô thờng của tính không. Nh vậy, từ góc độ triết học, các học giả nớc ngoài đã khái quát hóa các nguyên lý, nội dung cơ bản của hệ thống triết học Phật giáo. Một số khái niệm, t tởng đợc nhiều nhà nghiên cứu nớc ngoài chỉ ra là Vô thờng, Vô ngã, Nhân - Quả, Duyên khởi, Nghiệp, Khổ, Giải thoát, Niết Bàn, Tứ Diệu Đế. Đây là những chỉ dẫn quan trọng để xác định những nội dung căn bản của TLNSPG.
* Các công trình nghiên cứu trong nớc Các nghiên cứu về triết lý nhân sinh rất đa dạng ở chủ đề va cách triển khai nội hàm triết lý nhân sinh. Ví dụ nh: Kỷ yếu hội thảo khoa học 7riế¡ lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam [122] do Lê Công Sự (2016) chủ biên tập hợp nhiều bài viết về triết lý nhân sinh trong văn học Việt Nam, trong văn hóa truyền thống của dân tộc và trong văn hóa tộc ngời. Công trình 7?ié lý nhân sinh trong Phúc âm và ý nghĩa của nó đối với lỗi sống của tín đỗ Công giáo Việt Nam hiện nay [67] của tác giả Đỗ Xuân Hiền (2017) lại phân chia t tong triết lý nhân sinh trực tiếp thành hai nội dung là quan niệm về lẽ sống và quan niệm về lối sống. Công trình: 7zzét lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hỏng của nó đối với lịch sử t tởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến XVIII [151] của tác giả Ngô Quang Tuệ (2018) đã phân tích triết lý nhân sinh theo hai 16 mục lớn là quan niệm về con ngời (vị trí, bản chất, sự sống chết của con ngời), quan niệm về đạo làm ngời, kế đó các tiểu mục là những quan niệm cụ thể trong hệ thống t tong cua Đạo gia nh quan niệm về vô dục và tri túc, quan niệm về vô vi.
Hay trong cong trinh Triét ly nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nớc ta hiện nay” [140] của Nguyễn Thị Tình (2018), tác giả đã phân tích khái niệm triết lý nhân sinh trong đối sánh với khái niệm nhân sinh quan và chỉ ra sự khác biệt nhất định giữa hai khái niệm này. Có thể nói, khi nghiên cứu triết lý nhân sinh, hầu hết các tác giả thờng đồng nhất khái niệm này với khái niệm nhân sinh quan. Vì thé, trong phần tổng quan các công trình liên quan, những công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo có nội dung gần gũi với đề tài của luận án sẽ đợc u tiên khảo lợc. Việc khảo lợc này không có nghĩa tác giả luận án nhất trí với quan điểm đồng nhất hai khái niệm nhân sinh quan và triết lý nhân sinh.
Mục đích của việc khảo lợc này để làm rõ hơn nội dung cơ bản của Phật giáo về vẫn đề con ngời và xã hội, từ đó có thể khái quát hóa nội dung TLNSPG. Các công trình nghiên cứu giúp chúng tôi có nhận thức tổng quát về TLNSPG có thể kề đến là: Trong bài viết Bớc đâu tìm hiểu giá trị nhân sinh của Phật giáo [112] của Lé Van Quan (1998) dai khang định “Đối tợng chủ yếu của Phật giáo nghiên cứu là con ngời, là giá trị nhân sinh” [112, tr. Ngoài ra tác giả đã trình bày những t tổng cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo là tứ diệu đề, nhân quả, vô ngã, vô thờng. Tác giả Thích Tâm Thiện (1998) với công trình Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo [132] đã cung cấp một công trình công phu về t tởng Phật giáo về nhân sinh với 16 chơng sách.
Tác giả cho rằng Duyên sinh — Vô ngã là quan niệm trung tâm, có tính nhất quán và đặc thd của Phật giáo kể cả Nam tông và Bắc tông, “là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa Phật giáo và các tôn giáo khác từ cổ đại cho đến ngày nay” [132, tr. Nội dung căn bản của 17 nhân sinh quan Phật giáo theo tác giả là giáo lý Duyên sinh — Vô Ngã đợc hình thành trên cơ sở bản thé luận, nhận thức luận Phật giáo. Cuốn sách Triết lý nhà Phật [29] của tác giả Đoàn Trung Còn (2013) đã truyền tải một cách độc đáo những t tởng TLNSPG thông qua những tích truyện về Tứ đại, về Trí Huệ, về Trung Đạo, về Bầy khi. và những lời bình của tác giả để nói về sự vô thờng, vô ngã, Thập nhị nhân duyên, quá trình nghiệp báo luân hôi.
của nhân sinh. Tác giả nhấn mạnh: “Đạo Phật đù chia ra nhiều tông phái, chung quy cũng là để tiếp dẫn đa ngời đến chỗ giải thoát rốt ráo mà thôi” [29, tr. Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu chuyên biệt một nội dung cụ thê trong t tởng triết học Phật giáo về nhân sinh, thông qua đó có thể hiểu sâu hơn các t tởng cơ bản trong quan niệm nhân sinh của Phật giáo. Cụ thể là: Ta Chí Hồng (2000) trong bài Góp phân tìm hiểu khái niệm và quan điểm về Nghiệp của Phật giáo [14] chỉ ra hiện nay có nhiều cách lý giải khác nhau về Nghiệp, nhiều lý giải thậm chí không đúng với t tởng của Phật giáo nên không thấy đợc giá trị cũng nh hạn chế của thuyết Nghiệp báo.
Vì thế, tác giả phân tích Nghiệp đới góc độ không gian, thời gian về ba loại Nghiệp và về sự vận động của Nghiệp.