Mở đầu, Nội dung chính và Kết luận Phần nội dung chính gồm 2 chơng, 7 tiết CHGỊƠNG I1: ĐIÊU KIỆN, TIỀN ĐÈ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TƠỊ TƠJỞNG BÌNH ĐĂNG TRONG PHẬT GIÁO 1. Khái lợc t tởng bình đẳng 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Ấn Độ cổ đại 1. Quá trình hình thành t tởng bình đẳng của Đức Phật Thích Ca CHG]ONG 2: MOT SO NOI DUNG CO BAN TRONG TG] TGJONG BINH DANG CUA PHAT GIAO 1.
Bình đẳng giữa các cá nhân giữa các giai cấp trong xã hội 1. Bình đẳng trong việc xuất gia tu học và cơ hội giải thoát 1. Bình đẳng nam nữ 1. Ý nghĩa cua t tong binh dang trong Phật giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay.
12 CHG]ONG 1: KHAI LG|QOC TG] TGJONG BINH DANG VA DELKIEN, TIEN DE CHO SU RA DOI CUA TG] TGJONG BINH DANG TRONG PHAT GIAO 1. Khai loge toy tojong binh dang 1. Khdi niém binh dang, bat binh dang Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên) thì bình đẳng có nghĩa là: ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi (bình: đều nhau; đăng: thứ bậc). Bản chất của bình đẳng xã hội là sự bằng nhau giữa một loạt khía cạnh trong mối quan hệ giữa cái mà cá nhân làm và cái mà họ đợc hởng từ xã hội.
Cái mà cá nhân làm cho xã hội có thê là điều tốt lành, hoặc cũng có thể là điều xấu, có hại cho xã hội. Còn cái mà cá nhân đợc hởng có thể là địa vị xã hội, quyền lợi, tiền công, phần thởng, sự đánh giá, ghi công của xã hội nhng cũng có thể là sự trừng phạt thấp hoặc cao. Bình đẳng là sự ngang bằng nhau giữa cá nhân hoặc nhóm xã hội trên nhiều phơng diện của xã hội không loại trừ giới tính, lứa tuổi, tôn giáo, chủng tộc, màu da,. vì đó là sự khác nhau về mặt sinh học, tự nhiên chứ không phải là sự khác nhau về mặt xã hội.
Mọi công dân đều bình đăng trớc pháp luật, nam nữ bình đăng. Nh vậy, mặc dù xã hội luôn tồn tại những sự chênh lệch và khác biệt giữa ngời với ngời, giữa nhóm ngời này với nhóm ngời khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác nhng tất cả đều đợc tôn trọng, đợc thể hiện tài năng, có quyền mu cầu hạnh phúc và vơn tới những giá trị cao đẹp của cuộc sống. “Bắt bình đắng” là sự không bình đắng (bất có nghĩa là không), sự không bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội. Bắt bình đẳng xã hội luôn có những nét khác nhau trong những xã hội khác nhau.
Ở xã hội có quy mô và hoàn thiện hơn thì bất bình đẳng xã hội gây 13 gat hơn so với các xã hội đơn giản. Bất bình đăng thờng xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả cụ thể liên quan đến giai cấp, giới tính, chủng tộc, lãnh thổ,. Sự bất bình đẳng xảy ra khi một số cá nhân, giai cấp, cộng đồng vợt trội hơn một số cá nhân, giai cấp, cộng đồng khác về một số khía cạnh nào đó. Nhng ngời ta vì một mục đích kinh tế hay mục đích chính trị mà tự cho mình cái quyền lấn át kẻ yếu thế hơn.
Khi mặc nhiên công nhận rằng, mỗi ngời có thể hơn kém nhau về của cải, tài năng hay địa vị xã hội, nhng mỗi ngời đều đợc xã hội công nhận quyền công dân, bình đăng với nhau về nghĩa vụ và quyền hạn công dân. Bình đẳng xã hội đã vô tình bỏ qua khía cạnh đạo đức của nó, mà đây mới thực sự là cái mà xã hội thiếu thốn và cần thiết. T tong binh dang trong Phat giáo nhấn mạnh điều này. Bởi vì, những sự chênh lệch, khác biệt, thậm chí đối lập là điều thờng xảy ra trong cuộc sống, nhng đây không phải là nguyên nhân của bất bình đăng.
Mỗi ngời sinh ra đều có quyền sống, quyền tự do, quyền mu cầu hạnh phúc và quan trọng nhất là quyền đợc tôn trọng sự sống của mình. Sự bất bình đẳng theo nghĩa này sẽ đợc hạn chế nếu mỗi ngời hiểu đợc giá trị đạo đức mà t tởng bình đẳng trong Phật giáo đã đề xong. Bình đẳng trong quan niệm của một số nhà triết học Không phải chỉ khi có pháp luật thì thuật ngữ bình đắng và quyền bình đẳng mới đợc sử dụng mà nó xuất hiện sau khi pháp luật ra đời một thời kỳ dài. Thuật ngữ bình đẳng đợc xuất hiện lần đầu tiên trong thời kỳ Cách mạng t sản ở Châu Âu do các nhà triết học và t tởng sử dụng khi luận giải về nhà nớc và pháp luật tiêu biểu.
Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyển - chính quyển dân sự” của John Locke (1632-1704) đã luận giải về bình đẳng khi bàn về quyền con ngời và nguồn gốc của nhà nớc. Ông cho rằng con ngời có những quyền tự nhiên cơ bản là quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu. Ông khăng định rằng đây là những quyền tự nhiên hay quyền thiên bẩm phải đợc bảo vệ ở mọi 14 chế độ xã hội. Theo đó, mỗi ngời sinh ra đều bình đăng với nhau đò có khác biệt về khả năng, hoàn cảnh sống hay của cải.
Con ngời thông qua lý trí tự nhiên, luôn quan tâm tới nghĩa vụ và bốn phận đối với ngời khác để mọi ngời luôn bình đẳng với nhau về quyền lợi, không ai có quyền xâm phạm tới lợi ích của ngời khác. Tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu (1689-1755) tại chơng 3 thuật ngữ bình đẳng cũng đợc sử dụng khi tác giả luận giải về “tỉnh thần bình đẳng cực đoan”. Ông chỉ ra rằng: “Tinh thần bình đăng chân chính khác tỉnh thần bình đẳng cực đoan một trời một vực”, Bình đẳng chân chính không phải là làm cho mọi ngời đều chỉ huy hay không ai bị chỉ huy cả, mà là chỉ huy những ngời bình đẳng với mình và phục tòng con ngời bình đẳng với mình. Nền dân chủ không phải là vô chủ, mà là do những ngời bình dang 1am chủ.
Thuật ngữ bình đăng cũng đợc đề cập đến trong tác phẩm “Bàn về khế ớc xã hội "của Jean - Jacques Rousseau (1712 - 1778). Rousseau viết: “Công ớc xã hội xây dựng nên sự bình đắng về tinh thần và pháp chế, để thay thế cái thiên nhiên đã làm cho ngời không bình đẳng về thể lực. Trên phơng diện công ớc và pháp quyền, con ngời tuy không đồng đều nhau về thân thé va trí tuệ vẫn đợc hoàn toàn bình đẳng nh nhau”, “Dới quyền cai trị của một chính phủ tồi tệ, su bình dang chi là bề ngoài va gia tao”[43, tr.14] hay tai chong XI - Các hệ thống lập pháp khác nhau ông viết: “về bình đẳng thì không nên hiểu là mọi mức độ quyền lực về tài sản đều phải tuyệt đối ngang nhau”[43, tr. Trong tác phẩm “Bàn về bát bình đẳng”, J.
Rouseau viết: “Những kẻ quyền thế luôn tìm mọi cách đề bênh vực cho sự bất bình đăng. Họ giải thích rằng, bất bình đăng là một quy luật tự nhiên, cũng nh bàn tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhân dân rên rỉ dới sự áp bức của họ thì họ lại dẫn Kinh thánh ra dé bịt miệng thiên hạ”. Dới góc độ tự nhiên - sinh học, con ngời sinh ra đúng là bất bình đẳng.
Nhng con ngời không chỉ tồn tại với một mặt tự nhiên. Bản chất của con ngời là sinh vật xã hội tức là luôn phải tồn tại trong mối quan hệ 15 với nhau. "Đời sống con ngời, nếu không hợp thành xã hội sẽ là đời sống gian nan, cô đơn, tàn nhẫn và ngắn ngủi”. Nói cách khác, hợp thành xã hội cũng là bản chất tự nhiên của con ngời đề phân biệt với các sinh vật không phải là con ngời.
Tính xã hội của con ngời làm phát sinh nhu cầu về bình đẳng. Bởi lẽ, xã hội loài ngời chỉ có thể tồn tại một cách trật tự khi có điều kiện: mọi cá nhân trong xã hội đều đợc những thành viên khác thừa nhận với t cách là con ngời trong mọi mỗi quan hệ xã hội. Chính vì vậy, bình đẳng ở đây không phải là sự bình đẳng về những thuộc tính sinh học - tự nhiên mà là sự bình đẳng về t cách con ngời trong xã hội. Đó là đợc thành viên khác, xã hội và nhà nớc đối xử nh là một thành viên trong xã hội có đầy đủ các phẩm chất, các quyền của một con ngoi: quyén sống, quyền tự do, quyền mu cầu hạnh phúc.
Quyền bình đẳng là một quyền tự nhiên của con ngời. Muốn có quyền bình đẳng trớc pháp luật thì một ngời phải đợc pháp luật thừa nhận t cách con ngời. Trong các tác phẩm của mình, mặc dò C.Mác (1818-1883) không luận giải bình đăng là gì, nguồn gốc của bình đăng từ đâu nhng ông lại cho ta thấy đợc tính hiện thực của bình đẳng bằng cách chỉ ra bản chất con ngời là tổng hòa những quan hệ xã hội; chỉ ra thực chất mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể là quan hệ lợi ích; sự thống nhất giữa cá nhân và tập thể là điều kiện cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân cũng nh của tập thể; khái niệm xã hội đợc biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, cao nhất là xã hội loài ngời (toàn thể nhân loại), thấp hơn là những hệ thống xã hội nh quốc gia, dân tộc, giai cấp, chủng tộc [41, tr. Nh vậy, có thê thấy các lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh trong đó có t pháp hình sự thì bình đẳng chỉ có đợc khi chú ý đến việc từng cá nhân có giá trị và đợc đối xử bình đẳng với các cá nhân khác trong xã hội.Ăngghen (1820-1895) khẳng định: “sự bình đẳng giữa các dân tộc cũng cần thiết nh sự bình đẳng giữa các cá nhân”[4ó, tr.
Quyền bình đắng giữa các dân tộc gắn với tự do của con ngời, mang tính chất chung vot ra 16 ngoài khuôn khổ của quốc gia. Bình đăng dân tộc không chỉ là bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia mà còn giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các màu da, chủng tộc. Đó là tính nhân loại, phổ biến của bình đẳng dân tộc.