CHƯƠNG I. Lý do chọn đề tài 1. Xuất phát tù’ nhu cầu thực tiễn Trong thời đại của nền kinh tê hội nhập quôc tẻ hiện nay, chât lượng đào tạo và đâu ra của các trường đại học trờ nên quan trọng hơn bao giờ hết, nó có thể được coi là một trong nhừng yếu tố quyết định sự thành bại của một quốc gia vi sự ánh hưởng đến lực lượng lao động cung cấp cho thị trưÒTig. Điều này thông thường được xem xét thông qua KQHT cùa sinh viên - một yếu tố đáng chú ý không chỉ cho thấy sự thành công ở trường mà còn dự đoán nghề nghiệp và kết quá việc làm.
Với sự đào lạo như vậy cần có sự nồ lực, cổ gắng, sự cạnh tranh mạnh mẽ và công bằng giữa các sinh viên ngày nay. Có thê thấy các bậc cha mẹ và người hướng dẫn thường quan tâm đen kết quả và thành công trong học tập bàng cách trau dồi trí tuệ của sinh viên. Tuy nhiên, điều thiếu sót quan trọng ở đây là họ lại bó qua và đặt ỉt sự quan tâm đến cảm xúc của con em mình. Những càm xúc ây lại chính là thứ côt lõi chi phôi và gây ra các tác động mạnh mè đên suy nghĩ và hành vi của người học dần đến kết quá học tập cũng sè bị ánh hường phần nào theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực.
Các nhà nghiên cửu nhận ra rang đời sống tinh cảm cùa một người có ánh hường đến những kết quá (Gardner, 1993; Pekrun, 1992). Extremera và Fernandez-Berrocal (2004) cũng đã cho thấy sự ồn định về cảm xúc làm trung gian cho mối quan hệ giừa trí tuệ cảm xúc (được đo băng TMMS; Salovey, Mayer, Goldman, Turvey, & Palỉầi, 1995) và điếm của học sinh. Đôi lúc người học có thể sẽ càm thấy khỏ khăn đê quán lý câm xúc của họ khi đổi mặt với các tinh huống khác nhau ờ trường. Đê theo kịp nhu cầu của thế giới, điều quan trọng là phái xử lý căng thăng, điều hòa được cảm xúc.
Quán lý cám xúc là rất quan trọng để cái thiện hiệu suất. Ngay cả sau khi họ đã có cơ hội vào được lĩnh vực ngành nghề mình yêu thích nhưng KQHT cua họ vần có thê không tốt nếu không biết cách quàn lý và điều hướng cam xúc. Thực tiền cho thây trí thông minh có thô hồ trợ sinh viên thu thập thông tin ve chú đề, nhưng chí có TTCX mới cỏ thê nâng cao năng lực học tập cùa họ và biến họ thành những người học hiệu quá và thành công. 2 Đặc biột với sự phát tricn nhanh chỏng của xã hội ngày nay, con người phải đối mặt với làn sóng toàn câu hóa cũng như nhiêu thách thức khác nhau.
Vi vậy, khá năng tự kiêm soát cám xúc là một vấn đề quan trọng để không bị cuốn theo dòng cháy cùa các yếu tổ tiêu cực và xấu xa. Theo báo cáo Tâm nhìn mới về Giáo dục cùa Diền đàn Kinh tế Thê giới (2016), trí tuệ cám xúc nhẩn mạnh một số năng lực và phâm chất nhân cách cần thiêt cho sinh viên thế kỷ 21, những người sè gia nhập lực lượng lao động toàn câu. Do đó, TTCX cao giúp duy trí trạng thái hài hòa trong bản thân và cuối cùng là tự tin hơn khi đối mặt với nhừng thách thức khi sổng và học tập trong các cơ sờ giáo dục. Xuất phát tù’ khoảng trống nghiên cứu Thuật ngừ TTCX lần đầu tiên được Salovey và Mayer (1990) và nó được phô biến bởi Goleman (1995), người đề cập đến nó như khá năng cám nhận, hiểu, đánh giá và áp dụng hiệu quá sức mạnh và sự nhạy bén cùa cảm xúc như một nguồn năng lượng, thông tin, niềm tin, sự sáng tạo và ành hường của con người.
Kẻ từ đó, khái niệm chung về TTCX được biết đến rộng rãi, xuất hiện trên các bài báo và tạp chí (Bennetts, 1996; Peterson, 1997) và các cuốn sách nôi tiếng (Cooper & Sawaf, 1997; Gottman & DeClaire, 1997). Hiện tại, khái niệm học thuật về TTCX đà được phát triên thông qua một sổ mô hình và khuôn khồ lý thuyết (Barchard 2001; Mayer và cộng sự, 2003; Peterson & Seligman 2004) và dựa trên ngày càng nhiều nghiên cứu liên quan (Fischer và cộng sự, 2004 ; Katyal & Awasthi 2005; Mizra & Redzuan 2010; Simon & Nath, 2004). Theo Golcman (1995), ngoài Chỉ sổ thông minh (IỌ), trí tuệ cám xúc (EQ), trí tuệ xà hội và cơ hội cùng cỏ ảnh hường đáng kể đến thành công cùa một cá nhân. Trong khi chi số IỌ có thể cho phép một người đàm báo có được một công việc, EỌ lạo điều kiện cho sự thăng tiến nghề nghiệp.
Các nghiên cứu đà chứng minh rằng điều phân biệt giữa những người thành công và không thành công không nhất thiết là chi sổ IQ, mà là EQ của họ. Nghiên cứu cùa Snarey và Vaillant (1985) đã chửng minh rằng các đặc điểm liên quan đến sự ốn định càm xúc, chăng hạn như khà năng quán lý sự thất vọng, điều chỉnh cám xúc và hợp tác với người khác, là nhừng yếu tổ dự báo mạnh mẽ về thành tích. 3 Các nghiên cửu đà tìm thấy mối lien hộ giừa kết quá học tập và thành công trong sự nghiệp ban đầu (Kool, Mainhard, Jaarsma, Brekelmans & Van Beukelen, 2016) cũng như giữa việc tham gia học tập ở trường đại học và thu nhập khi mới bắt đầu sự nghiệp (Hu & Woliniak, 2013). Vậy vấn đề đặt ra là giừa TTCX và KQHT cỏ mối liên kết như thế nào? Theo Gardner (1993), Pekrun (1992) các nhà nghiên cứu đà thừa nhận lác động của trạng thái cảm xúc của một người đối với kết quả học tập.
EI đà được thành lập như một yếu tố dự đoán kết quâ học tập ờ các cấp lóp khác nhau bao gồm cá trước tuối vị thành niên (Reyes, Brackett, Rivers, White, & Salovey, 2012; Billings, Downey, Lomas, Lloyd, & Stough, 2014), trung học (Costa & Faria, 2015) và đại học (Parker, Summerfeldt, Hogan, & Majeski, 2004). Theo Nasir và Masur (2010), việc học tập hiệu quả diễn ra khi học sinh phát triổn sự hiếu biết về cách học và sự hicu biết này đòi hòi những kỳ năng cám xúc như sự tự tin, tự chù, khả năng giao tiêp và hợp tác với người khác. Trong một cuộc điều tra trước đây cúa Rozell, Pettijohn và Parker (2002), một mối tương quan đáng kê giừa TTCX và thành công trong học tập của sinh viên đại học Mid-Western ớ Hoa Kỳ đã được phát hiện, cho thấy khả năng nhận thức này là một yếu tố dự báo cỏ giá trị về kêt quả học tập. Tương tự, phát hiện cùa Farooq (2003) nhấn mạnh tầm quan trọng của TTCX trong môi trường giáo dục khi nhừng học sinh có mức độ trí tuệ cám xúc cao hơn thê hiện KQHT vượt trội hơn những học sinh có mức độ TTCX thấp hơn.
Bôn cạnh đó, Vcnkatcswar Mchcr và các đồng nghiệp cùa ông (2021) cũng cho rằng TTCX cỏ tác động đảng kê đến kết quả học tập của học sinh, điêu này được thô hiện bằng hiộu ứng cùng chiều. Phát hiện của họ tiết lộ rang những sinh viên đạt diêm cao hơn về TTCX cũng thê hiện kết quả học tập mạnh mẽ và tích cực hơn. Mặc dù, có nhiều nghiên cứu được thực hiện trên lình vực khoa học giáo dục (Vela, 2003; Walker, 2006; Evenson, 2007; Yilmaz, 2007; Diken, 2007; Colston, 2008; Olson, 2008; Erdogdu & Kenarh, 2008; Aril và cộng sự, 2011; Nwadinigwe & Azuka-Obieke, 2012) và lĩnh vực quân trị kinh doanh (Olatoyc và cộng sự, 2010; Kavcar, 2011), số lượng các nghiên cứu đề cập đên TTCX cho sinh viên kế toán (Bay & Mckeage, 2006; Jones, 2008; Jones & Abraham, 2009; Cook và cộng sự, 2011; Nicholls và cộng sự, 2012) cỏn hạn chê mặc dù TTCX có tâm quan trọng đôi với thành tích và thành công trong cuộc sổng cũng như tiềm năng hừu ích của nó trong bối cánh của các tô chức học thuật. Bên cạnh đó tại Việt Nam, TTCX là một từ khóa chưa được phô biến, mặc dù từng có các nghiên cứu được thực hiện trong các doanh nghiệp, nhưng lại có một sự 4 thiếu hụt đáng chú ý của các nghiên cứu trong lĩnh vực này đổi với sinh viên (Bùi Thu Vân, 2022).
ơ Việt Nam, có rất ít nghiên cứu vê mối tương quan giừa TTCX và kết quả học tập của sinh viên. Nghiên cứu này nhằm thu hẹp khoáng cách này bằng cách điều tra mối quan hệ giữa TTCX và kết quà học tập của sinh viên trong nhóm Ke toán - Kiêm toán tại Đại học UEH. Bằng cách kết hợp nhu cầu thực tế với nền táng lý thuyết, nghiên cứu này cổ gắng làm sáng tỏ cách TTCX tác động đến kết quà học tập cùa sinh viên trong lình vực này. Kết hợp giừa nhu cầu thực liền và sự thiếu hụt các nghiên cứu về mối quan hệ giừa TTCX và kết quả học tập đổi với đối tượng sinh viên tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, nồ lực nghiên cứu này được thực hiện với mục liêu kiểm tra ảnh hường của TTCX đối với KQHT cùa sinh viên thuộc nhóm ngành Kế toán - Kiếm toán lại Đại học UEH. Mục tiêu nghiên cứu và câu hòi nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu Trong bôi cảnh việc giáo dục đang được đặt lên hàng đâu, người học càng chú trọng đên việc đạt được điếm số cao như kốt quà mong muốn lừ quá trinh ticp thu kiến thức. Việc học tập hiệu quá diên ra khi học sinh phát triên sự hiêu biêt vê cách học và sự hiêu biêt này đòi hỏi những kỳ năng càm xúc như sự tự tin, tự chủ, khả năng giao tiếp và hợp tác với người khác.
Các tài liệu đã chĩ ra rằng TTCX hỗ trợ cá nhận thức và xà hội cúa sự phát triển của người học, điều này tạo nên một lợi thế trong một số bối cảnh, đặc biệt là trong việc thiết lập hệ thống giáo dục. Trên thực tế, kiến thức về cám xúc có liên quan đến việc người học cỏ thê điều chính, điều hướng câm xúc, có hành vi xà hội tích cực và kêt quả tôt hơn trong các bài kiêm tra và đánh giá (Greenberg và cộng sự, 2003). Vì vậy, nghicn cứu này được thực hiên nhằm tìm hiôu và đưa ra các phân tích VC tác động lừ các nhân tổ của TTCX đen kết quá học tập cua sinh viên Ke toán - Kiếm toán thuộc trường Đại học ƯEH nói riêng đồng thời dưa ra các đề xuất và giải pháp đê cải thiện hiệu quá học tập của sinh viên hiện nay nói chung. Vi vậy bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm đạt được hai mục đích chính: Thứ nhất là kiểm định mức độ tác động từ các yếu tố của TTCX đến kết quả học tập của sinh viên Ke toán - Kiêm toán thuộc trường Đại học ƯEH.