ĐẶT VẤN ĐỀ Thanh Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, được biết đến là một huyện có nhiều tài nguyên khoáng sản như Caolanh, fenspat, Talc, đá xây dựng, cát, sỏi… Bên cạnh sự tích cực về mặt kinh tế, hoạt động khai thác khoáng sản này cũng đánh dấu một loạt những vấn đề môi trường và xã hội nghiêm trọng, nhất là tại các khu vực khai thác Caolanh- fenspat. Nguyên liệu caolanh - fenspat đã và đang được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau như làm nguyên liệu sản xuất đồ gốm, sứ, thuỷ tinh và sản xuất các loại sơn, mỹ phẩm, giấy. Hàng năm, các nhà sản xuất đã tiêu thụ hàng triệu tấn caolanh - fenspat cho các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và một số ít làm chất phụ gia cho các ngành công nghiệp sản xuất giấy, sơn, cao su, xà phòng. Với tốc độ tăng trưởng ngày càng cao của các ngành công nghiệp trong nước thì nhu cầu về caolanh- fenspat ngày càng tăng trong khi các cơ sở khai thác trong nước đã phát triển nhiều, song quy mô khai thác còn nhỏ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu.
Những năm gần đây, môi trường tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đang chịu tác động lớn bởi các hoạt động như khai thác khoáng sản, giao thông, xây dựng, hoạt động của các nhà máy chế biến khoáng sản, đặt ra cho huyện Thanh Sơn nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết. Việc thực hiện bảo vệ môi trường ở các cơ sở khai thác được chú trọng, đã áp dụng các phương pháp, công nghệ xử lý chất thải hiện đại, giảm thiểu khói bụi trong khai thác. Nhiều cơ sở xây dựng hồ chứa, bể lắng, bể lọc chất thải trong khai thác, chế biến theo tiêu chuẩn quy định. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số cơ sở chạy theo sản lượng, lợi nhuận còn chưa thực sự chú trọng đến bảo vệ môi trường, gây khiếu kiện trong nhân dân.
Các hoạt động khai thác khoáng sản cũng đã gây nên những tác động rất đa dạng ảnh hưởng không c 2 nhỏ đến môi trường xung quanh. Câu hỏi đặt ra là: hoạt động khai thác khoáng sản ảnh hưởng như thế nào đến môi trường của huyện Thanh Sơn, tác động môi trường của việc khai thác khoáng sản và đến đời sống sinh hoạt của con người? cần có những giải phápgì nhằm hạn chế những tác động trên? Tuy nhiên điểm quan trắc chất lượng môi trườngtại huyện Thanh Sơn chưa nhiều và phân bố chưa đều. Do vậy, kết quả quan trắc chưa đưa ra bức tranh tổng quan về chất lượng không khí khu vực. Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài: “Ảnh hƣởng của hoạt động khai thác Caolanh – Fenspat đến môi trƣờng tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”được thực hiện.Với mục tiêu cung cấp thêm cơ sở khoa học và dữ liệu cho việc theo dõi, giám sát và đánh giá diễn biến mức độ ô nhiễm môi trường, làm cơ sở khoa học đề ra các giải pháp giảm thiểu tác động của ô nhiễm môi trường đến môi trường và sức khỏe con người tại khu vực nghiên cứu.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm môi trường: Theo Khoản 1 Điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, môi trường được định nghĩa như sau:“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. - Ô nhiễm môi trường: Theo Khoản 8 Điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”. - Tiêu chuẩn môi trường: Theo Khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:“Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyên áp dụng để bảo vệ môi trường”.
- Quan trắc môi trường: Theo Khoản 20 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:“Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường”. - Chỉ thị môi trường: Chỉ thị (indicator) là một tham số (parameter) hay số đo (metric) hay một giá trị kết xuất từ tham số, dùng cung cấp thông tin, chỉ về sự mô tả tình trạng của một hiện tượng môi trường khu vực, nó là c 4 thông tin khoa học về tình trạng và chiều hướng của các thông số liên quan môi trường. Các chỉ thị truyền đạt các thông tin phức tạp trong một dạng ngắn gọn, dễ hiểu và có ý nghĩa vượt ra ngoài các giá trị đo liên kết với chúng. Các chỉ thị là các biến số hệ thống đòi hỏi thu thập dữ liệu bằng số, tốt nhất là trong các chuỗi thứ tự thời gian nhằm đưa ra chiều hướng, các chỉ thị này kết xuất từ các biến số, dữ liệu.
Tổng quan về khoáng sản 1. Tổng quan về tình hình khai thác khoáng sản trên Thế giới Khác với các loại tài nguyên khác như tài nguyên đất (dưới góc độ sử dụng cho việc trồng trọt, xây dựng.), tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản không những không tái tạo được mà nếu khai thác không hợp lý thì việc khắc phục những sai lầm sẽ có những khó khăn, bất cập lớn hơn gấp bội so với việc định hướng đúng lúc ban đầu về mục đích và mục tiêu của việc khai thác. Trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua nhu cầu của con người về tài nguyên khoáng sản tăng trưởng vói tốc độ rất lớn. Tình trạng cạn kiệt tài nguyên khoáng sản của nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây đã trở thanh vấn đề nóng bỏng và Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Để đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội không những cho trước mắt và cần phải tính tới nhu cầu ngày càng tăng trong tương lai, rất nhiều nước ưên thế giới đã có những chính sách hạn chế khai thác khoáng sản trong nước và tăng cường nhập khẩu quặng, đồng thời cải tiến công nghệ nhằm tận thu tối đa các sản phẩm khoáng sản có ích. Tùy theo từng nước, các quy định trong các Luật Khoáng sản hay Luật Mỏ có những quy định về chính sách của nước đó về lĩnh vực khoáng sản. Hoạt động khai thác khoáng sản phát triển mạnh trong một thập niên vừa qua ở nhiều quốc gia Châu Á giàu tài nguyên như Campuchia, Indonesia, Phillipines và Ấn Độ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới. Mặc dù khai thác khoáng sản là nguồn thu quan trọng giúp thúc đẩy tăng trưởng c 5 kinh tế ở nhiều quốc gia, việc phát triển ngành này cũng mang lại những tác động môi trường và xã hội nghiêm trọng.
Các phương pháp khai thác khoáng sản hiện nay là dùng mìn nổ hoặc khoan đều rất thô sơ và không hề có nỗ lực nào nhằm khôi phục lại những khu vực đã khai thác do chi phí khôi phục thường cao hơn nhiều so với giá trị mà việc khai thác khoáng sản mang lại. Trong khi các công ty khai thác ở các nước đang phát triển ở Châu Á đều ít quan tâm đến vấn đề này; trong khi đó, bản thân các Chính phủ của các quốc gia này lại thiếu năng lực hành chính - kỹ thuật cũng như ý muốn chính trị để quản lý và kiểm soát hiệu quả.Và thực tế nhiều thỏa thuận khai thác giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước thường thiếu minh bạch, dẫn đến hậu quả càng trở nên nghiêm trọng. Ở các quốc gia này, việc quản lý thuộc thẩm quyền liên ngành; nên thực tê có nhiều những mâu thuẫn, chồng chéo: Như ở Ấn Độ, Tổng cục Mỏ phụ trách về kế hoạch khai mỏ và đóng mỏ và tiến hành hoạt động giám sát và quản lý theo Quy chế Bảo tồn và Phát triển Khoáng sản (1998), gồm cả việc quản lý đối với ô nhiễm không khí vàxả thải chất độc hại. Mặc dù Tổng cục này có trách nhiệm rõ ràng đối với cácvấn đề môi trường nhưng họ lại không có thẩm quyền đánh giá tác động môi trường và lập kế hoạch quản lý môi trường mà lại do Bộ Môi trường và Lâm nghiệp thực hiện.
Ban kiểm soát ô nhiễm quốc gia lại có thẩm quyền đồng ý với việc thiết lập vận hành hệ thống khai thác mỏ và theo dõi ô nhiễm nước và không khí. Cơ quan này có chức năng tương tự như Tổng cục Mỏ nhưng hoạt độngdựa trên một cơ sở pháp lý khác, cụ thể là Luật Ngăn ngừa và Kiểm soát ô nhiễm nước 1974 và Luật Ngăn ngừa và Kiểm soát ô nhiễm không khí 1984. Ở Bangladesh, theo một chuyên gia về khai thác khoảng sản tại nướcnày, vấn đề chính là không có sự điều phối giữa các cơ quan chính phủ khác nhau. Điều này dẫn tới sự quản lý chồng chéo các dự án và chỉ có một vài dự án tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật.
c 6 Ngoài những vấn đề trên, việc quản lý khai thác khoáng sản gặp không ít khó khăn do các quy định pháp luật không rõ ràng, năng lực quản lý yếu kếm, hoặc do thiếu sự trao đổi và chính sách liên ngành. Tuy nhiên, với nhiều quốc gia khác có cách áp dụng tiếp cận tổng thể trong qưản lý tài nguyên và môi trường đang mang lại những lợi ích quan trọng. Trong đó, cộng đồng dân cư những người trực tiếp gánh chịu các tác động qua lại từ khai thác sẽ đưa ra ý kiến của mình, các tổ chức phi chính phủ nâng cao nhận thức và tham gia vào các dự án để giải quyết vấn đề này, các chuyên gia tài nguyên, các nhà hoạch định áp dụng cách nhìn đồng bộ này vào trong quyết định của mình. Tổng quan về tình hình khai thác khoáng sản tại Việt Nam So với các nước trong khu vực và trên thếgiới tài nguyên và khoáng sản Việt Nam được đánh giá là rất phong phú và đa dạng do đặc điểm địa hình và khí hậu như: Đá vôi, cát, đất sét, sắt, dầu khí, đồng Trong đó, một sốloại có trữ lượng lớn như:than đá có trữ lượng lớn và chất lượng cao nhất khu vực Đông Nam Á.
Bên cạnh một số loại đã kể trên thì những khoáng sản khác có trữlượng nhỏvà phân tán.