Chương 1. Giới thiệu tổng quan về bài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam Chương 5. Kết luận 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong phần này, bài nghiên cứu nghiên cứu sẽ trình bày các lý thuyết và nghiên cứu liên quan đến sự tác động của sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và các thuộc tính của nữ thành viên HĐQT ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể bao gồm các phần: - Cơ sở lý thuyết về vấn đề đại diện, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, lý thuyết vốn con người; - Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề đại diện, quản trị doanh nghiệp, nghiên cứu về đa dạng giới tính trong HĐQT và các thuộc tính của nữ thành viên HĐQT ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty.
Nền tảng cơ sở các lý thuyết 2. Lý thuyết về vấn đề đại diện Vấn đề đại diện luôn tồn tại ở nhiều công ty cổ phần, khi mà quyền sở hữu tách bạch với quyền quản lý hay sự bất cân xứng thông tin giữa những người nội bộ bên trong công ty (như các cổ đông kiểm soát, ban giám đốc) với nhà đầu tư bên ngoài Luận văn thạc sĩ Kinh tế (như cổ đông thiểu số, người cho vay). Vấn đề đại diện sẽ làm phát sinh một số chi phí làm ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động cũng như giá trị của doanh nghiệp. Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976).
Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền, theo đó tách thành các nhóm quan hệ có thể tạo ra mâu thuẫn lợi ích: - Một là, xung đột giữa cổ đông và ban giám đốc: cổ đông mong muốn tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nhằm đem lại suất đầu tư cao cho họ, còn ban giám đốc/ nhà quản lý có thể thực hiện một số hành vị nhằm mang lại lợi ích cá nhân cho họ nhưng không mang đến hiệu quả cho giá trị doanh nghiệp, thậm chí làm giảm giá trị (ví dụ thực hiện các dự án có NPV <0 vì mục tiêu củng cố địa vị của giám đốc). Mâu thuẫn này sẽ dẫn đến quyết định tăng cường kiểm soát của các cổ đông đối với những người đại diện điều hành công ty, có thể làm phát sinh một số chi phí làm giảm giá trị doanh nghiệp. 8 - Hai là, sự bất cân xứng thông tin giữa chủ sở hữu/ người quản lý và chủ nợ: do người cho vay là người bên ngoài công ty, nên họ sẽ có ít thông tin về hoạt động của công ty hơn những người nội bộ (thực hiện một số trò chơi gây bất lợi đối với chủ nợ). Với mục tiêu kiểm soát khả năng thu hồi được khoản vay và thu được lãi cho vay, chủ nợ có xu hướng ràng buộc một số điều khoản trong hợp đồng khi cho vay như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát đầu tư, yêu cầu mức lãi vay phạt cao khi vi phạm các điều khoản.
Việc này sẽ làm xuất hiện một số chi phí đại diện, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và giá trị doanh. - Ba là, bất cân xứng thông tin giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông nhỏ lẻ: vì lợi ích nhóm, các cổ đông kiểm soát sẽ thực hiện một số chuyển dịch tài sản gây bất lợi cho cổ đông thiểu số như mua bán tài sản công ty với giá có lợi cho họ, cho vay với lãi suất cao,…những phương thức chuyển dịch tài sản này sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty. Luận văn thạc sĩ Kinh tế Theo Healy và Palepu (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực… để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài.
Đặc biệt, lý thuyết đại diện trong quản trị doanh nghiệp là một phần mở rộng của lý thuyết đại diện được thảo luận ở trên. Nó liên quan đến một loại mối quan hệ đại diện cụ thể tồn tại giữa các cổ đông và giám đốc/quản lý của một công ty. Các cổ đông, chủ sở hữu thực sự của công ty, như chủ tịch HĐQT, đề cử các giám đốc điều hành để điều hành và đưa ra quyết định thay cho họ. Mục đích là để đại diện cho quan điểm của chủ sở hữu và tiến hành các hoạt động vì lợi ích của chủ sở hữu.
Mặc dù có lý do rõ ràng trong việc đề cử ban giám đốc, có rất nhiều trường hợp khi các vấn đề phức tạp xuất hiện và các giám đốc điều hành cố ý hoặc vô tình đưa ra các quyết định 9 không đem lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Trong môi trường kinh doanh năng động, lý thuyết đại diện trong quản trị doanh nghiệp đã thu hút được rất nhiều sự chú ý và được nhìn nhận và đánh giá từ các quan điểm khác nhau. Các chuyên gia về vấn đề khác nhau, có thể là các nhà kinh tế, tài chính, kế toán hay các nhà lập pháp, đã nghiên cứu các tác động rộng hơn của quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của công ty. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể định lượng được hiệu ứng của lý thuyết đại diện.
Lấy ví dụ yêu cầu của một số tiến bộ công nghệ hoặc mua một số tài sản quan trọng trong tương lai gần. Trong những tình huống như vậy, xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa các cổ đông và giám đốc điều hành. Những bất đồng như vậy có thể tạo ra cảm giác tranh chấp giữa chủ sở hữu và người kiểm soát của công ty, thường dẫn đến sự thiếu hiệu quả và đôi khi thậm chí thua lỗ. Một trong những lý do chính cho xung đột như vậy là sự cám dỗ lợi ích của nhóm Luận văn thạc sĩ Kinh tế nhỏ mà họ sẵn sàng thực hiện chuyển dịch lợi ích.
Cổ đông chủ yếu không tham gia vào công việc hàng ngày của công ty và do đó không được trang bị đầy đủ để hiểu lý do đằng sau các quyết định kinh doanh quan trọng. Ngược lại, các nhà quản lý có tầm nhìn xa hơn và có thể tiếp cận với thông tin liên quan. Họ tin vào khái niệm kế toán liên quan đến kế toán và hầu hết các quyết định của họ được giữ trong tầm nhìn dài hạn của công ty. Trong khi các cổ đông muốn tăng giá trị hiện tại và tương lai của cổ phần của họ, các giám đốc điều hành quan tâm hơn đến sự tăng trưởng dài hạn của công ty.
Vì vậy, sự khác biệt trong cách tiếp cận của họ tạo ra một cảm giác không tin tưởng và bất hòa. Tình hình có thể hoàn toàn ngược lại khi các nhà quản lý quan tâm đến việc thể hiện hiệu suất ngắn hạn cho các chủ sở hữu để tăng lương của họ. Điều này là phổ biến hơn và một tình huống nguy hiểm hơn. Tóm lại, có một vấn đề về sự bất đồng mục tiêu lợi ích giữa hai bên.
Các chính sách quản trị doanh nghiệp nhằm mục đích điều chỉnh mục tiêu của cả HĐQT và ban điều hành, qua đó có thể giải quyết hầu hết các xung đột của đại diện. Với thị trường trở nên biến động hơn bao giờ hết, điều bắt buộc là cả hai, lợi ích của các cổ đông và 10 công ty đều được quan tâm. Các cổ đông nên tin tưởng vào việc quản lý của công ty, tương tự như vậy, quản lý cũng nên giữ lợi ích của các chủ sở hữu thực sự của công ty trong tâm trí của họ. Một thông tin rõ ràng nên được gửi đi giải thích lý do đằng sau các quyết định kinh doanh chính để giúp các cổ đông hiểu và đánh giá cao những thay đổi nếu có.
Lý thuyết về phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory) Các công ty phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp để tồn tại, những phụ thuộc này sẽ gây ra rủi ro cho các doanh nghiệp. Để giảm bớt những rủi ro này các công ty có thể tăng cường mối liên kết bên ngoài để kiểm soát các nguồn lực đó. Pfeffer và Salancik (1978) lập luận rằng các HĐQT là kênh phục vụ cho sự liên kết công ty với các tổ chức bên ngoài khác để giải quyết vấn đề phụ thuộc môi trường. Pfeffer và Salancik (1978) đề xuất bốn lợi ích chính cho các mối liên kết bên ngoài: (1) cung cấp các nguồn lực như thông tin và chuyên môn; (2) tạo ra các kênh Luận văn thạc sĩ Kinh tế giao tiếp với các thành phần quan trọng đối với công ty; (3) cung cấp các cam kết hỗ trợ từ các tổ chức hoặc nhóm quan trọng trong môi trường bên ngoài; và (4) tạo ra tính hợp pháp cho công ty trong môi trường bên ngoài.
Hillman, Cannella và Paetzold (2000) mở rộng bốn lợi ích này thành phân loại các kiểu quản lý cung cấp nhiều nguồn lực khác nhau cho công ty: người trong cuộc, chuyên gia kinh doanh, chuyên gia hỗ trợ và ảnh hưởng của cộng đồng. Hillman và cộng sự (2000) mở rộng lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cho thấy rằng các kiểu quản lý khác nhau sẽ cung cấp các nguồn lực có lợi khác nhau cho công ty. Kết quả là, một hội đồng đa dạng hơn sẽ cung cấp nhiều nguồn lực quý giá hơn, điều này sẽ tạo ra hiệu suất tốt hơn. Hơn nữa, sự đa dạng trong hội đồng là quan trọng đối với doanh nghiệp.
Ví dụ, Booth và Deli (1999) thấy rằng sự hiện diện của một chủ ngân hàng thương mại trong HĐQT có liên quan tích cực đến tổng nợ của công ty và họ kết luận rằng các ngân hàng thương mại cung cấp chuyên môn và liên kết với thị trường nợ ngân hàng. Agrawal và Knoeber (2001) nhận thấy rằng các nhà quản lý bên ngoài có nguồn gốc chính trị và pháp lý có nhiều khả năng tham gia vào hội đồng quản trị của các công 11 ty bán cho chính phủ hoặc phải đối mặt với quy định của chính phủ.