phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm có 3 chƣơng sau: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN ẢNH HƢỞNG CỦA ENSO ĐẾN XOÁY THUẬN NHIỆT ĐỚI Trong chƣơng này, học viên tập trung trình bày những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc trong những năm gần đây về ảnh hƣởng của ENSO đến xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Biển Đông. Chƣơng 2: SỐ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong chƣơng này, học viên tập trung trình bày các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc thực hiện để xây dựng bộ số liệu sử dụng tính toán. Chƣơng 3: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ Trong chƣơng này, học viên sẽ tập trung phân tích các kết quả chủ yếu của luận văn về ảnh hƣởng của ENSO đến một số đặc trƣng của XTNĐ hoạt động trên Biển Đông và đổ bộ vào Việt Nam. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN ẢNH HƢỞNG CỦA ENSO ĐẾN XOÁY THUẬN NHIỆT ĐỚI 1.
Ngoài nƣớc Các nhà khoa học ngoài nƣớc trong những năm gần đây đã có khá nhiều những nghiên cứu giải thích mối quan hệ giữa ENSO với hoạt động xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dƣơng (TBD) nói chung, Biển Đông nói riêng cũng đã đƣợc triển khai nghiên cứu ở một số nƣớc, chủ yếu là Trung Quốc, Mỹ,… Có thể nêu ra một số kết quả đã đƣợc công bố của các tác giả nhƣ: Li Chongyin (1987), William Gray (1994), Dong K (1988), Lander M.Fujita and Sumiko Fujita (1998), Johny C. Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ENSO với hoạt động của XTNĐ trên vùng biển tây nam TBD phía bắc Australia, Nicholls [15], [16] đã phát hiện mối quan hệ khá chặt giữa tần số hàng năm của XTNĐ hoạt động trên khu vực với chỉ số dao động nam (SOI) nhƣng là mức biến động của chỉ số này từ 2 năm liên tiếp trƣớc mùa bão cần dự báo. Từ đó đã kiến nghị một mô hình dự báo khá đơn giản dựa trên phƣơng pháp hồi quy tuyến tính đơn. Kết quả dự báo đạt độ chính xác 65%.
Tây bắc TBD là ổ bão lớn nhất hành tinh, có hoạt động khá phức tạp. Một số công trình nghiên cứu về mối quan hệ này đã đƣợc triển khai trong những năm gần đây ở một số nƣớc. Tƣơng đối sớm có thể kể đến công trình của Li Chongyin (1987) [12]. Trong công trình này, tác giả đã đƣa ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa hoạt động của XTNĐ và hiện tƣợng ENSO dựa trên lịch xuất hiện của ENSO.
Trong công trình của Pao shin Chu, Jiangxin Wang (1997) [17], các tác giả đã phân tích sự xuất hiện của XTNĐ trên khu vực quần đảo Hawoai trong những năm có El Nino và La Nina. Kết quả cho thấy những năm El Nino khả năng xuất hiện XTNĐ thấp hơn so với những năm không có ENSO hoạt động, nhất là những năm La Nina, khu vực phát sinh XTNĐ cũng khác. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1996, ba tác giả là Zhang Guangzhi, Zang Xiangong, Wei Fengying cũng nêu trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu diễn biến của tần số năm XTNĐ trên khu vực tây bắc TBD trong 100 năm qua” [24] đã đƣa ra những so sánh về tần số hoạt động của XTNĐ theo các mùa trong những năm El Nino và La Nina đã đi tới nhận xét là: tần số năm của XTNĐ có khuynh hƣớng giảm vào thời kỳ đông xuân trong những năm El Nino, nhƣng lại có khuynh hƣớng tăng vào mùa hè thu nhất là khi gió vĩ hƣớng xuất hiện pha hƣớng đông. Khi có La Nina khuynh hƣớng sẽ ngƣợc lại.
Jose và Cruz (1999) [11] đã chỉ ra rằng XTNĐ ảnh hƣởng tới Philippin có mối quan hệ bởi các đặc trƣng của ENSO, với điều kiện khô (ẩm) không thƣờng xuyên tƣơng ứng với những năm ENSO ấm (lạnh) trong hầu hết các năm. Lyon và các công sự (2006) [13] đã chỉ ra rằng lƣợng mƣa trong mùa tƣơng ứng ứng với các năm ENSO có sự thay đổi trái ngƣợc giữa mùa hè bắc bán cầu (tháng VI-tháng IV) và mùa thu (tháng X-XII) trong suốt pha ENSO. Trong các tác giả Trung Quốc nghiên cứu về XTNĐ nói chung về mối quan hệ giữa XTNĐ với ENSO thì Johnny C.L Chan và các cộng sự làm việc tại Đại học Hồng Kông là tác giả có nhiều kết quả nghiên cứu từ cơ bản đến ứng dụng vào dự báo. Trong các công trình: “Hiện tƣợng ENSO mạnh ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến hoạt động của bão nhiệt đới trên vùng biển Tây Bắc TBD” [8], “Mối quan hệ giữa hoạt động của XTNĐ ở tây bắc TBD với hiện tƣợng El Nino/dao động nam” [9], “Hoạt động của XTNĐ ở tây bắc TBD liên quan đến hiện tƣợng El Nino và La Nina” [10], các tác giả đã dựa vào nguồn số liệu “phân tích lại” khá phong phú của Hoa Kỳ, tiến hành phân tích không chỉ đối với tần số xuất hiện XTNĐ trên khu vực tây bắc TBD mà cả trên khu vực Biển Đông, không chỉ với XTNĐ mà cả đối với một số trƣờng khí tƣợng có liên quan nhƣ trƣờng đƣờng dòng trên mực 850mb và 500mb.
Tác giả đi đến nhận xét là vào các tháng 9, 10 của những năm trƣớc năm El Nino cũng nhƣ năm El Nino, hoạt động của XTNĐ trên Biển Đông giảm nhƣng ở phần đông của tây bắc TBD lại tăng. Xu thế ngƣợc lại đối với với năm La Nina nhƣng với phần còn lại của vùng này lại giảm từ tháng 8 đến tháng 11. Từ những 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu này, các tác giả đã đi đến xây dựng mô hình dự báo mùa và năm đối với XTNĐ dựa trên những nhân tố dự báo, trong đó nhân tố liên quan đến hiện tƣợng ENSO góp phần quan trọng.1 cho kết quả mô phỏng tác động của La Nina đến khả năng xuất hiện của XTNĐ trên khu vực tây bắc TBD. Số lƣợng XTNĐ trong năm La Nina Số lƣợng bão mạnh trong năm La Nina Trên mức bình thƣờng Mức bình thƣờng Dƣới mức bình thƣờng Hình 1.1: Tác động của La Nina đến khả năng xuất hiện XTNĐ trên khu vực tây bắc Thái Bình Dương Nghiên cứu về XTNĐ hoạt động trên phạm vi toàn cầu nói chung, mối quan hệ của nó với hiện tƣợng ENSO nói riêng và cuối cùng là xây dựng mô hình dự báo nó cho nhiều khu vực phải kể đến những kết quả nghiên cứu của M.
Saunder và các cộng tác viên trong nhóm “Hiểm họa bão nhiệt đới” [14]. Những kết quả nghiên cứu của nhóm này cũng cho thấy hiện tƣợng ENSO đã có những ảnh hƣởng khá rõ nét đến hoạt động của XTNĐ trên các khu vực của thế giới. Nói chung, vào những năm El Nino, hoạt động của El Nino ít hơn so với chuẩn và ngƣợc lại khi La Nina hoạt động. Từ những nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng đƣợc các mô hình dự báo hạn dài cho ba khu vực tây bắc TBD, Đại Tây Dƣơng và nam TBD phía bắc Austrlia.
Trong nƣớc Ở Việt Nam cũng đã có không ít nghiên cứu về XTNĐ hoạt động trên khu vực tây bắc TBD, Biển Đông và ảnh hƣởng tới Việt Nam. Trong công trình nghiên cứu của Hoàng Minh Hiền - Nguyễn Hữu Ninh (1988) [2] và một số nghiên cứu của Trần Việt Liễn [3], [21] về XTNĐ đã bƣớc đầu có những đánh giá về mối quan hệ của nó với hiện tƣợng ENSO. Tuy nhiên, do 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những hạn chế của những nghiên cứu này, việc đánh giá chi tiết, định lƣợng mối quan hệ ENSO - XTNĐ còn rất hạn chế. Trong công trình nghiên cứu của tác giả Phan Văn Tân (2002) [18] “Ảnh hƣởng của ENSO tới hoạt động của XTNĐ ở khu vực tây bắc Thái Bình Dƣơng và Biển Đông” thời kỳ 1945 - 2000 cho thấy hiện tƣợng ENSO có ảnh hƣởng đến tần suất xuất hiện và vị trí hình thành của XTNĐ.
Nhìn chung, trên khu vực tây bắc TBD, số lƣợng XTNĐ không khác biệt nhiều giữa năm El Nino và năm La Nina, nhƣng ở khu vực Biển Đông, số lƣợng XTNĐ xuất hiện và hình thành có xu hƣớng tăng trong những năm La Nina và giảm trong những năm El Nino. Trong thời kỳ El Nino, bão mạnh có xu hƣớng gia tăng, còn áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) có xu hƣớng giảm so với thời kỳ La Nina trên toàn khu vực. Đối với vị trí hình thành XTNĐ, tác giả cho thấy thời kỳ El Nino có xu hƣớng dịch chuyển về phía Đông, còn trong thời kỳ La Nina lại có xu hƣớng dịch chuyển về phía Tây trên toàn khu vực. Tuy nhiên, lại có sự khác biệt về sự thay đổi vị trí hình thành XTNĐ theo hƣớng bắc - nam giữa vùng biển tây bắc Thái Bình Dƣơng và khu vực Biển Đông trong thời kỳ El Nino.
Đó là trên khu vực Biển Đông, XTNĐ có xu hƣớng dịch về phía bắc, còn ở vùng tây bắc Thái Bình Dƣơng lại có xu hƣớng dịch chuyển về phía Nam. Trong công trình nghiên cứu “Đánh giá quy luật biến động dài hạn và xu thế biến đổi số lƣợng bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực Tây Thái Bình Dƣơng, Biển Đông và ven biển Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Ƣu (2009) [7] thời kỳ 1959 - 2008 cho thấy số lƣợng trung bình năm của bão và siêu bão ở khu vực tây bắc Thái Bình Dƣơng, Biển Đông cũng nhƣ đổ bộ vào dải ven biển Việt Nam dao động theo các chu kỳ dài từ hai năm đến nhiều chục năm nhƣng chƣa rõ ràng. Đó là, chƣa thấy xu thế gia tăng số lƣợng bão và siêu bão ở những khu vực nêu trên, thậm chí số lƣợng siêu bão còn có xu thế giảm. Trong 5 thập niên gần đây, số lƣợng bão gây ảnh hƣởng trực tiếp đến ven bờ vịnh Bắc Bộ giảm, trong khi ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ lại gia tăng.
Những dao động này cho thấy có khả năng sự hoạt động của bão trên khu vực chịu tác động của các dao động quy mô lớn nhƣ tựa 2 năm (QBO), El Nino và nhiều chục năm Thái Bình Dƣơng (IPO). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong công trình nghiên cứu “Xu hƣớng hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới trên Tây Bắc Thái Bình Dƣơng và Biển Đông theo các cách phân loại khác nhau” của tác giả Nguyễn Văn Tuyên (2007) [6] trong thời kỳ 1951 - 2006 cho thấy: khi bão đƣợc phân loại theo vùng ảnh hƣởng thì nhìn chung, số lƣợng bão trên khu vực tây bắc Thái Bình Dƣơng có xu hƣớng giảm, nhƣng trong đó chỉ có số cơn bão yếu và trung bình có xu hƣớng giảm, còn số cơn bão mạnh lại có xu hƣớng tăng lên.