Chương 1, Luật Việc làm 2013 đều quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Theo các định nghĩa trên, các hoạt động được xác định là việc làm phải đồng thời thoả mãn 3 điều kiện: (1) là những hoạt động lao động (thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm); (2) các hoạt động đó 11 phải tạo ra thu nhập (bao gồm: làm các công việc được trả công dưới dạng tiền, hiện vật; hoặc những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công cho công việc đó); (3) các hoạt động đó được pháp luật cho phép. Qua những phân tích trên, có thể hiểu việc làm là những hoạt động lao động hợp pháp, mang tính nghề nghiệp và tương đối ổn định, tạo ra thu nhập hoặc có khả năng tạo ra thu nhập cho người thực hiện. Lý luận chung về chương trình đào tạo tích hợp 1.
Kh i ni m về tích hợp v dạy học tích hợp Theo từ điển tiếng Việt, tích hợp là “sự hợp nhất, sự hòa nhận, sự kết hợp” Theo Từ điển giáo dục học thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy”. Kế hoạch giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học. Cũng theo các tác giả của từ điển này thì có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau. Tích hợp dọc là “loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau” còn tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề.
Từ định nghĩa như thế, một số nhà giáo dục đưa ra các nội dung tích hợp như: tích hợp bộ môn, tích hợp chương trình, tích hợp giảng dạy, tích hợp học tập, tích hợp kiến thức, tích hợp kỹ năng. Theo Dương Tiến Sỹ “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức( khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó”. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, kết hợp, hòa nhập, thống nhất các bộ phận khác nhau theo các đặc điểm cơ bản của từng bộ phận của một đối tượng, để tạo thành một đối tượng mới như một thể thống nhất. Có thể thấy, tích hợp không phải là sự tổng hợp lại một cách cơ học đơn điệu, máy móc các yếu tố, các thành phần hay những thuộc tính của các thành phần ấy với nhau mà phải được dựa trên mối quan hệ ràng buộc, liên hệ mật thiết với nhau và điều chỉnh l n nhau trong quá trình thực hiện. 12 Theo nghĩa chung nhất, tích hợp được hiểu là: sự tích lũy, hợp nhất, nhất thể hóa để hình thành đối tượng mới. Như vậy, có thể thấy tích hợp là một nguyên tắc của sự phát triển và cấu trúc các khoa học.
Nguyên tắc này cũng chi phối quá trình đào tạo từ việc lên ý tưởng, xây dựng, phát triển chương trình tới việc tổ chức thực hiện và đánh giá thành tích học tập của người học trong quá trình đào tạo. Nguyên tắc tích hợp được thể hiện ngay trong việc xây dựng, phát triển các chương trình đào tạo. Có các kiểu chương trình tích hợp sau: Tích hợp đa môn (Multidisciplinary Integration): “Các cách tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học. Các môn liên quan với nhau có chung một định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn lại có một chương trình riêng”.
Tích hợp liên môn (Interdiciplinary In tegration): “Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với một hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp”. Tích hợp xuyên môn (Transdiciplinary Integration): “Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề và quan tâm của người học”. Vậy phương pháp đào tạo tích hợp là gì? Đào tạo tích hợp các khoa học được UNESCO định nghĩa: “l một c ch trình b y c c kh i ni m v c c nguyên lý khoa học, tr nh nhấn qu mạnh hoặc qu sớm sự sai kh c giữa c c lĩnh vực khoa học kh c nhau”. Theo Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam: “Đ o tạo tích hợp l qu trình dạy học m ở đó c c nội dung, hoạt động dạy kiến thức - kỹ năng - th i độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung v hoạt động dạy học để hình th nh v ph t triển năng lực thực hi n hoạt động nghề nghi p cho người học”.
Theo Xaviers Roegirs, “tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động.” Theo Nguyễn Văn Khải, “Đào tạo tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh. Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo”. Đào tạo tích hợp là việc liên kết một cách tự nhiên và có hệ thống các đối tượng nghiên cứu, học tập từ các lĩnh vực môn học khác nhau để hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho người học. Trong phương pháp này, giảng viên hướng d n sinh viên chuyển đổi thông tin từ ngôn ngữ của một môn học sang ngôn ngữ của 13 môn học khác.
Điều này d n đến việc học của sinh viên thường xuất phát từ những vấn đề mở, tình huống phức tạp cần giải quyết. Để giải quyết vấn đề đó, sinh viên phải sử dụng phối hợp kiến thức, kĩ năng và thao tác từ các môn học khác nhau. Nhờ quá trình này, sinh viên trở nên chủ động với kiến thức, phát triển năng lực và phẩm chất cá nhân. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đào tạo tích hợp không chỉ tập trung đánh giá kiến thức học sinh đã nắm vững, mà chủ yếu tập trung vào đánh giá khả năng vận dụng, ứng dụng kiến thức đó trong các tình huống thực tế.
Nói cách khác, sinh viên cần có khả năng huy động kiến thức hiệu quả và năng lực cá nhân để giải quyết những vấn đề mới xuất hiện và tình huống chưa từng gặp phải. Trong các khái niệm trên, có một số điểm cần chú ý. Đó là việc nhìn tổng thể về cấu trúc liên ngành của nội dung đào tạo để thiết kế chương trình học; mục tiêu đào tạo phải hướng tới việc phát triển các năng lực cụ thể cho người học có khả năng thực hiện trong thực tế. Mục đích của đ o tạo tích hợp Tích hợp trong đào tạo đại học Trên toàn cầu, phương pháp đào tạo tích hợp trong lĩnh vực ứng dụng và thực hành đã được áp dụng từ lâu, và trong vòng 5 năm gần đây, giáo dục Việt Nam đã bắt đầu áp dụng nó ở các cấp độ học tập.
Tuy nhiên, đào tạo tích hợp trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp v n ít được nghiên cứu. Phương pháp đào tạo tích hợp theo hướng ứng dụng/thực hành ở cấp độ đại học cũng có những đặc trưng tương tự như dạy học tích hợp ở các bậc đào tạo khác, vì đối tượng học tập của người học là nội dung các khoa học và việc hình thành năng lực và phát triển toàn diện cũng tuân theo quy luật tích hợp. Vì vậy, tích hợp trong đào tạo theo hướng ứng dụng/thực hành phải là một nguyên tắc cơ bản điều hướng quá trình đào tạo. Một số quan điểm cho rằng đào tạo tích hợp là việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.
Lý thuyết chuyên môn được cung cấp ngay khi cần thiết, và việc thực hành được thực hiện ngay sau đó. Dạy lý thuyết và thực hành diễn ra trong cùng một không gian và thời gian. Có thể nói, tích hợp trong đào tạo theo hướng ứng dụng/thực hành nhằm hình thành năng lực thực hiện cho người học, đảm bảo khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết trong các hoạt động giải quyết nhiệm vụ học tập hoặc công việc mang tính dự án. Theo quan điểm của chúng tôi, trong đào tạo theo hướng ứng dụng/thực hành, có ba mức độ của đào tạo tích hợp như sau: mức độ tích hợp theo mô-đun, trong đó lý thuyết và thực hành được dạy liên tục, tiến độ có thể dạy lý thuyết trước và sau đó là thực hành; mức độ tích hợp theo bài, trong đó lý thuyết được dạy trước, sau đó là thực 14 hành sau khi học xong toàn bộ lý thuyết của bài; và mức độ 3 là tích hợp theo từng bước công việc, trong đó kiến thức và kỹ năng thực hành được dạy học tích hợp trong từng bước công việc.
Mặt khác, quan điểm sư phạm tích hợp không chỉ áp dụng cho các bài tích hợp trong các mô-đun năng lực mà còn thể hiện trong các bài lý thuyết và bài thực hành riêng lẻ. Cách hiểu này giúp tránh những hạn chế trong nhận thức của một số giáo viên về tích hợp sư phạm. Trong quá trình tổ chức dạy học các mô-đun năng lực thực hiện, tích hợp lý thuyết và thực hành là điều cần thiết, kết hợp các miền mục tiêu và nội dung học tập. Thực tế, giáo viên đang thử nghiệm những cách hiểu khác nhau về tích hợp, bao gồm sự liên hệ, sự phối hợp và sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.