Tiểu luận đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến mức lương của sinh viên chuyên ngành kế toán kiểm toántrong vòng 3 năm sau khi ra trường trên địa bàn tp hà nội

Tài liệu nghiên cứu Tiểu luận đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến mức lương của sinh viên chuyên ngành kế, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Trường đại học

Học viện Ngân Hàng

Chuyên ngành

Kế Toán - Kiểm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài

2021

78
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mức lương sinh viên kế toán kiểm toán

Mức lương của sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán sau khi tốt nghiệp là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay. Theo thống kê, mức lương sinh viên kế toán kiểm toán tại Hà Nội trong 3 năm đầu tiên sau tốt nghiệp thường dao động từ 7 triệu đến 15 triệu đồng mỗi tháng, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ học vấn, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc. Việc hiểu rõ về mức lương kế toán kiểm toán Hà Nội không chỉ giúp sinh viên có cái nhìn thực tế về thu nhập mà còn giúp họ định hướng nghề nghiệp và phát triển bản thân một cách hiệu quả.

1.1. Tầm quan trọng của mức lương

Mức lương không chỉ phản ánh giá trị của người lao động mà còn là động lực thúc đẩy họ phát triển nghề nghiệp. Đối với sinh viên mới ra trường, việc xác định mức lương kế toán kiểm toán 3 năm kinh nghiệm là rất cần thiết. Điều này giúp họ có thể tự tin hơn khi tham gia phỏng vấn và thương lượng lương với nhà tuyển dụng. Hơn nữa, mức lương cũng ảnh hưởng đến sự hài lòng và động lực làm việc của nhân viên trong tương lai.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương

Có nhiều yếu tố tác động đến mức lương sinh viên kế toán kiểm toán. Đầu tiên, trình độ học vấn là yếu tố quan trọng nhất. Sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học danh tiếng thường có mức lương khởi điểm cao hơn. Thứ hai, kỹ năng kế toán kiểm toán cũng đóng vai trò quan trọng. Những sinh viên có chứng chỉ chuyên môn như ACCA hay CPA thường được trả lương cao hơn. Thứ ba, kinh nghiệm làm việc cũng là một yếu tố không thể bỏ qua. Sinh viên có kinh nghiệm thực tập hoặc làm việc trong ngành sẽ có lợi thế hơn trong việc thương lượng mức lương.

2.1. Trình độ học vấn

Trình độ học vấn ảnh hưởng trực tiếp đến mức lương kế toán kiểm toán Hà Nội. Những sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học hàng đầu thường có cơ hội việc làm tốt hơn và mức lương cao hơn. Theo nghiên cứu, sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học quốc gia có thể nhận được mức lương khởi điểm cao hơn từ 10-20% so với những sinh viên tốt nghiệp từ các trường tư thục.

2.2. Kỹ năng và chứng chỉ

Kỹ năng chuyên môn và các chứng chỉ nghề nghiệp như ACCA, CPA có thể làm tăng giá trị của sinh viên trên thị trường lao động. Những sinh viên có chứng chỉ này thường được các công ty tuyển dụng ưu tiên và có thể yêu cầu mức lương cao hơn. Việc sở hữu các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm cũng là một lợi thế lớn trong việc nâng cao mức lương kế toán kiểm toán.

III. Thực trạng mức lương sinh viên kế toán kiểm toán tại Hà Nội

Thực trạng mức lương sinh viên kế toán kiểm toán tại Hà Nội cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các công ty và lĩnh vực khác nhau. Các công ty lớn, đặc biệt là các công ty kiểm toán quốc tế, thường trả lương cao hơn so với các công ty nhỏ hoặc các doanh nghiệp trong nước. Theo khảo sát, mức lương trung bình của sinh viên mới ra trường trong lĩnh vực này là khoảng 10 triệu đồng/tháng, nhưng có thể lên đến 15 triệu đồng/tháng tại các công ty lớn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về kiến thức và kỹ năng trước khi ra trường.

3.1. Mức lương trung bình

Mức lương trung bình của sinh viên kế toán kiểm toán trong 3 năm đầu tiên sau tốt nghiệp tại Hà Nội là một chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình việc làm. Theo số liệu thống kê, mức lương này dao động từ 8 triệu đến 12 triệu đồng/tháng, tùy thuộc vào vị trí và công ty. Những sinh viên có kinh nghiệm thực tập hoặc làm việc bán thời gian trong ngành thường có mức lương cao hơn.

3.2. Xu hướng lương trong ngành

Xu hướng lương kế toán kiểm toán đang có dấu hiệu tăng lên, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Các công ty đang ngày càng chú trọng đến việc tuyển dụng những nhân viên có kỹ năng và trình độ cao. Điều này tạo ra cơ hội cho sinh viên mới ra trường có thể yêu cầu mức lương cao hơn nếu họ có đủ năng lực và kinh nghiệm.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN MỨC LƯƠNG CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG 1. Cơ Sở Lý Lu ận: 1. Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của tiền lương 1. Khái niệm về tiền lương Ở góc độ khái quát nhất, định nghĩa về tiền lương được Tổ chức Lao động quốc tế quy định trong Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 về bảo vệ tiền lương.

Định nghĩa này có tính phổ biến và được hầu hết các quốc gia cụ thể hoá trong pháp luật, theo đó: - “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng lời nói cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. - Nghiên cứu về tiền lương cho thấy cũng có nhiều học thuyết, quan điểm về tiền lương với nội dung khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau. Chẳng hạn, ở Pháp thì: “Sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của họ". - Hay ở Nhật Bản thì xác định: “Tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc như là nghỉ mát hàng năm, nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ”.

Tiền lương ở Nhật Bản không tính đến những đóng góp của người sử dụng lao động cho quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí hay những phúc lợi mà người lao động được hưởng. 10 - Ở Đài Loan thì lại xác định: “Tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người lao động nhận được do làm việc bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác đề trả cho họ theo ngày, giờ, tháng hoặc theo sản phẩm". - Ở Việt Nam, cùng với góc độ tiếp cận, đặc điểm của nền kinh tế và điều chỉnh pháp luật trong những giai đoạn khác nhau mà có những định nghĩa về tiền lương khác nhau. Từ góc độ kinh tế, tiền lương được định nghĩa như: “Tiền lương là giá cả của sức lao động được hình thành qua thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với cung - cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.

- Chuyên sâu hơn, từ góc độ kinh tế lao động thì tiền lương được định nghĩa đơn giản là “khoản thu nhập mang tính thường xuyên mà người lao động được hưởng từ công việc” hay “là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó. - Từ góc độ pháp luật, khái niệm tiền lương đã từng được định nghĩa là “sổ lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc và điều kiện lao động được xác định theo sự thỏa thuận hợp pháp giữa hai bên trong hợp đồng lao động và theo quy định của pháp luật”. Định nghĩa này tập trung vào xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thế trong tiền lương, tập trung nhiều vào các căn cứ trả lương và sự điều chỉnh của pháp luật. - Hiện nay, khái niệm tiền lương được tiếp cận đơn giản trong quy định Bộ luật lao động năm 2019 với quy định tại Điều 90: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác".

11 - Theo định nghĩa này, tiền lương thể hiện rõ bản chất là giá cả của sức lao động trên cơ sở thỏa thuận cho việc thực hiện công việc. Điều đó cũng giải thích cho sự phong phú và đa dạng của các mức lương trả cho người lao động làm những công việc khác nhau với chuyên môn, trình độ khác nhau. Khái niệm về sinh viên Theo Từ điển Giáo dục học1, “sinh viên” là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.

Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Do nhu cầu thống kê, người ta có thể phân biệt sinh viên th ông thường và sinh viên thuộc hệ thống giáo dục không chính quy (giáo dục thường xuyên). Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo. Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như sinh viên.

Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin: Ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan. Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo. Về môi trường sống, SV thường theo học tập trung tại các trường ĐH và CĐ (thường ở các đô thị), sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi. Ngành nghề kế toán- kiểm toán Kế toán - Kiểm toán là hai khái niệm khác nhau với những công việc đặc thù và khác biệt, tuy nhiên lại không thể tách rời.

1 Tác giả Bùi Hiền, Vũ Văn Tảo, NXB Từ điển B ách khoa, 2013 12 Hiểu một cách đơn giản nhất, kế toán là ngành thực hiện quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của tài sản trong các tổ chức. Kế toán được vận dụng không chỉ trong các doanh nghiệp mà còn trong các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức của chính phủ và nhiều tổ chức khác. Trong khi đó kiểm toán là kiểm tra và xác nhận độ chính xác, tính trung thực của những số liệu trên, từ đó bao quát được hoạt động tài chính của doanh nghiệp để đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp. Ở mức độ rộng hơn, bộ phận Kiểm toán - Kế toán là công cụ đắc lực để quản lý kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nhà nước nói chung.

Cho đến thời điểm này, ngành kế toán vẫn được rất nhiều bạn trẻ quan tâm lựa chọn vì mức thu nhập đáng mơ ước của nó, điều này dẫn đến việc đăng ký ồ ạt, vượt mức so với nhu cầu của xã hội, dẫn đến nguồn cung cao, tỷ lệ thất nghiệp cao, nhưng nhu cầu tuyển dụng cũng rất cao. Tuy nhiên, mỗi năm cũng có hàng ngàn các doanh nghiệp tổ chức mới ra đời và tất nhiên là họ đều cần phải có kế toán để làm những công việc sổ sách thu chi quan trọng. Th ực trạng v ấn đề nghiên cứu - Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2010), với phương pháp thu thập dữ liệu phân tầng kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, sau đó sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người của hộ đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho người Chăm và người Khmer. Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học cho các cơ quan, ban ngành hữu quan trong việc hoạch định các chính sách có liên quan đến an sinh xã hội cho người dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung.

- Pratik Mukesh Mehta (2012), The factors driving employee salaries đưa ra ba kết luận. Thứ nhất: thông tin cá nhân như độ tuổi, vị trí, chiến lược làm việc, 13 số người phụ thuộc thậm chí thái độ cảm xúc của người lao động ảnh hưởng đến tiền lương của họ. Thứ hai: tình hình quản lý vĩ mô và vi mô của thị trường lao động cũng ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động. Thứ ba: tinh thần lạc quan vui vẻ cũng là cơ hội để người lao động xin được công việc hài lòng như họ mong muốn.

- Borjas (2013) cho rằng, tiền lương của một người phụ thuộc vào tuổi tác của người đó. Tiền lương tương đối thấp với NLĐ trẻ, tăng lên khi họ trưởng thành và tích lũy được vốn con người, rồi có thể giảm nhẹ đối với NLĐ lớn tuổi, đã trình bày mối quan hệ và số năm đi học của một người bằng “đường tiền lương theo học vấn” cho thấy tiền lương của các doanh nghiệp sẵn sàng trả tương ứng cho mỗi trình độ học vấn, thể hiện mối quan hệ giữa lương và số năm đi học. Mincer (1974), Borjas (2013), Thông thường NLĐ làm việc trong cùng một ngành nghề thì thu nhập của NLĐ còn phụ thuộc vào chuyên môn (loại hình công việc) và kinh nghiệm công tác của NLĐ. - Mincer (1958, 1974) và Becker (1964) chỉ ra rằng giáo dục và đào tạo làm tăng năng suất của các cá nhân bằng cách tăng kỹ năng và kiến thức của họ.

Và kỹ năng, kiến thức đó lại dẫn đến kết quả là làm tăng lợi nhuận cho các cá nhân. Vì vậy, theo lý thuyết vốn nhân lực thì giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng cho hoạt động kinh tế của một cá nhân. Mincer (1974) đề xuất hàm thu nhập và nó được sử dụng rộng rãi đến bây giờ, nó cũng được gọi là hàm Mincer hoặc mô hình hồi quy thu nhập Mincer. - Phạm Thị Phong Lan và Trương Hoàng Minh (2014), tác giả cho rằng, yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến thu nhập là kinh nghiệm, nhất là trong các nghề khai thác truyền thống.

Bài viết sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp sau đó mã hóa số liệu để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, nh ỏ nhất và giá trị phần trăm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ