MỞ ĐẦU Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Đất đai còn là điạ bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Do đó, sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao và giữ được sự bền vững môi trường là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, trong những năm gần đây do sức ép của đô thị hoá và sự gia tăng dân số, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng.
Do đó, nhà nước đã tăng cường nhiều biện pháp nhằm bảo đảm việc sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, bền vững. Một trong những giải pháp đó là đánh giá ảnh hưởng môi trường do biến động sử dụng đất nông nghiệp. Việc đánh giá ảnh hưởng môi trường do biến động sử dụng đất nông nghiệp còn giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về đất đai nắm chắc về thực trạng biến động đất nông nghiệp. Trước tình hình đó thì yêu cầu đặt ra ở mỗi địa phương là phải nắm rõ những biến động về sử dụng đất nông nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá ảnh hưởng môi trường do biến động sử dụng đất nông nghiệp.
Huyện Hoài Đức là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội với tổng diện tích tự nhiên là 8.246,77 ha (theo số liệu thống kê đất đai năm 2014), trong đó diện tích đất nông nghiệp là 4. Huyện có vị trí hết sức thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp do nằm gần với trung tâm thành phố Hà Nội cũng như nằm trong tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là hạt nhân kinh tế của miền Bắc. Cho nên trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của huyện đã được chú trọng đầu tư phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó, nền sản xuất nông nghiệp của huyện còn tồn tại nhiều yếu điểm do quá trình khai thác sử dụng đất không hợp lý gây suy giảm nghiêm trọng về môi trường.
Việc đánh giá ảnh hưởng môi trường do biến động sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất các biện pháp sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững tại huyện Hoài Đức là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Ảnh hưởng môi trường do biến động sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Hoài Đức, Hà Nội” được thực hiện. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới Đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận. Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn.
Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng. Mặt khác, cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người. Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày.
Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất. Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất. Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra [16].Buringh, toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp. Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt).
Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác [29]. Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác, Châu Á là nơi tập 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia.
Ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á [34]. Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại. Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người.
Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm. Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt, có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp [14]. Theo kết quả kiểm đất đai năm 2014, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.731 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 26.953 ha, dân số là 90.728,9 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 2956,38 m2/ người [22].
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng 1. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam Tổng diện tích Tổng diện tích Bình quân diện tích đất sản xuất đất trồng cây Dân số Năm đất sản xuât nông nông nghiệp hàng năm (1000 ngƣời) nghiệp ngƣời/m2 (1000ha) (1000ha) 2010 10.127,72 Nguồn: Niên giám thống kê các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Theo niên giám thông kê 2014, đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chiếm 30,91% và diện tích đất chưa sử dụng chiếm 7,48% so với tổng diện tích đất tự nhiên, cần xem xét để được diện tích đất chưa sử dụng phục vụ vào sản xuất [22].
Nước ta là một nước nông nghiệp đa phần dân số làm nghề nông, tuy nhiên diện tích bình quân đất canh tác so với một số nước trên thế giới là tương đối thấp. Do đó, để đáp ứng đủ an ninh lương thực quốc gia và gia tăng hoạt động xuất khẩu cần phải khai thác đất đai hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp sạch bền vững, thân thiện với môi trường. Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp 1.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3-5 tỷ ha.
Nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá. Do đó, để giải quyết nhu cầu về lương thực, con người buộc phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [30]. Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất, đánh giá ảnh hưởng môi trường do biến động sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm.