Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cam kết tổ chức và các mô hình , lý thuyết , nghiên cứu đã được thực hiện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Trình bày quy trình, phương pháp nghiên cứu và hệ thống thang đo Chương 4: Trình bày phương pháp phân tích và kết quả nghiên cứu Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu , những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn quản trị, gợi ý một số hướng nâng cao mức độ cam kết tổ chức của người lao động thông qua hoạt động trách nhiệm xã hội của ngân hàng. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cam kết tổ chức của người lao động, qua đó xác định các thành phần của nghiên cứu, các biến nghiên cứu, xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.1 Lý thuyết về trách nhiệm xã hội 2.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội Có rất nhiều khái niệm khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Mỗi tổ chức , doanh nghiệp , chính phủ dưới những góc độ và quan điểm riêng để đưa ra một khái niệm về trách nh iệm xã hội phù hợp với những điều kiện , đặc điểm và trình độ phát triển của mình.
Tuy nhiên, tựu trung lại, sự hình thành và phát triển của khái niệm trách nhiệm xã hội có thể được khái quát hóa theo ba quan điểm dưới đây.1 Quan điểm cổ đông Theo quan điểm cổ điển , một công ty được coi là có trách nhiệm với xã hội và đáp ứng những kỳ vọng của xã hội khi nó đóng góp vào nền kinh tế chung và tạo ra tài sản cho xã hội. Vai trò và trách nhiệm hàng đầu của một doanh nghiệp là sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ , cung cấp việc làm và tạo ra lợi nhuận bằng bất kỳ biện pháp, phương tiện nào có thể , bất kể những hậu quả gì xảy đến với môi tr ường, loài người, miễn là nằm trong phạm vi quy định của luật pháp. Đại diện tiêu biểu cho quan điểm này là nhà kinh tế học người Mỹ đã từng đạt giải Nobel kinh tế Milton Friedman.Ông phát biểu rằng “Doanh nghiệp chỉ có mộ t trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận , gia tăng giá trị cho cổ đông , trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung th ực và công bằng”(Friedman, 1970). Theo Friedman , bản chất của vi ệc kinh doanh là “lợi nhuận”, việc sử dụng đồng tiền của tổ chức cho những mục đích , hoạt động xã hội tốt đẹp là lãng phí tiền của cổ đông , không phải là cách mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, cổ đông.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Dù đi ngược lại với những quan điể m hiện đại về trách nhiệm xã hội nhưng khái niệm của Friedman vẫn được trích dẫn rộng rãi trong các nghiên c ứu học thuật như là nền tảng ban đầu của khoa học hiện đại về trách nhiệm xã hội.2 Quan điểm các bên liên quan Quan điểm tiếp theo về trách nhiệm xã hội cho rằng doanh nghiệp không chỉ phải có trách nhiệm với cổ đông của mình mà còn phải có trách nhiệm với các bên liên quan (Marrewijk, 2003). Doane (2005) ghi nhận định nghĩa của Ngân hàng Thế giới “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một thuật ngữ mô tả những nghĩa vụ mà một công ty phải có trách nhiệm với các bên liên quan trong mọi hoạt động của mình. Một doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội, khi ra quyết định sẽ xem xét đến những tác động của mình đến cộng đồng và môi trường, cân bằng nhu cầu của các bên liên quan với nhu cầu của chính doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận.” European Commssion (2001) đưa ra định nghĩa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp như“một khái niệm theo đó các doanh nghiệp hợp nhất những vấn đề xã hội và môi trường vào hoạt động kinh doanh của mình và đặt trong sự tương tác với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện”. Các bên liên qua n ở đây được hiểu là “bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có thể ảnh hưởng đến hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được những mục tiêu của tổ chức ” (Freeman, 1984).
Friedman (2006) cho rằng có một mối quan hệ hiển nhiên giữa việc đ ịnh nghĩa bên liên quan là gì và việc xác định ai là bên liên quan .Một cách thông thường nhất để phân loại các bên liên quan khác nhau là xem xét những nhóm người mà mối quan hệ của họ với tổ chức có thể được phân biệt được. Các bên liên quan chínhbao gồm: cổ đông, khách hàng, nhà cung ứng và nhà phân phối , người lao động và cộng đồng địa phương. Ngoài những nhóm trên thì một số nhóm và cá nhân cũng được xem xét là các bên liên quan như truyền thông, công chúng nói chung , đối tác kinh doanh, thế hệ tương lai , thế hệ quá khứ (những nhà sáng lập của tổ chức ), đối thủ cạnh tranh, những nhà hoạt động hoặc các tổ chức phi chính phủ , đại diện các bên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 liên quan như công đoà n hay hiệp hội thương mại của các nhà cung cấp hoặc nhà phân phối, những cá nhân , tổ chức cung cấp tài chính không phải cổ đông như các chủ nợ , người nắm giữ trái phiếu , chính phủ , cơ quan quản lý và nhà hoạt định chính sách. Theo quan điểm này , tồn tại và lợi nhuận vẫn là mục tiêu và trách nhiệm hàng đầu của doanh nghiệp tuy nhiên doanh nghiệp cũng cần xác định và vận hành tổ chức cho phù hợp với nhu cầu và mong đợi của các bên liên quan (người tiêu dùng, nhân viên , nhà đầu tư , chính phủ , nhà cung cấp , chính quyền địa phương , các tổ chức phi chính phủ… ) (European Commission, 2001).
Ở đây, trách nhiệm của một doanh nghiệp được xác định bởi các bên liên quan. Nói về m ối quan hệ giữa hai quan điểm cổ đông và quan điểm các bên liên quan, Freeman,et al. (2010) đã chỉ ra rằng lý thuyết các bên liên quan có mối liên hệ mật thiết với quan điểm tối đa hóa lợi nhuận cổ đông của Friedman (1970) bởi “cách duy nhất đ ể tối đa hóa giá trị một cách bền vững là thỏa mãn các bên liên quan”. Để giải thích cho sự khác biệt giữa 2 cách tiếp cận này , Freeman,et al.
(2010) phát biểu rằng : “Friedman tin tưởng rằng doanh nghiệp thành công đồng nghĩa với “… tối đa hóa lợi nhuận”. Còn chúng ta tin rằng , để tối đa hóa lợi nhuận , các công ty cần những sản phẩm và dịch vụ tuyệt vời mà khách hàng mong muốn , mối quan hệ vững chắc với những nhà cung cấp để duy trì vận hành một cách tốt nhất, người lao động đại diện cho sứ mạng của công ty và giúp cho công ty trở nên tốt hơn, và những cộng đồng hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.3 Quan điểm xã hội Đây là quan điểm rộng nhất về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp là một phần của xã hội mà doanh nghiệp đang vận hành trong đó. Hoạt động của doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng đến xã hội nói chung ,vì vậy, doanh nghiệp phải có trách nhiệm với những ảnh hưởng của mình đến xã hội.
Doanh nghiệp nên phục vụ nhu cầu của xã hội , hướng tới sự thỏa mãn củ a xã hội (Marrewijk, 2003). Những doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội theohướng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 tiếp cận này được coi là những “công dân doanh nghiệp t ốt” (Waddock 2004 in Nielsen & Thomsen, 2007). Khi đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp theo hướng xã hội , khái niệm này vẫn bao gồm các bên liên quan nhưng được mở rộng hơn , bao gồm cả những yếu tố khác như môi trường , sự giàu có nói chung của nền kinh tế và chất lư ợng cuộc sống của xã hội mà doanh nghiệp hoạt động trong đó. Trên thực tế, quan điểm về các bên liên quan và quan điểm xã hội thường được sử dụng thay thế chon hau hoặc được kết hợp với nhau (Carroll, 1991, 1999) và các bên liên quan là m ột của một bộ phận qu an trọng của xã hộ i (Carroll & Buchholtz, 2008).
Đây cũng sẽ là quan điểm về trách nhiệm xã hội được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu này.2 Thành phần trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2.1 Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Carroll (1979, 1999) Trách nhiệm xã hội đã trở nên phổ biến và có rất nhiều quan điểm khác nhau về nội dung và phạm vi, cũng như những nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội. Trong số đó, mô hình “kim tự tháp” của Carroll (1979, 1999) khá toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất. Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Carroll cho rằng trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp có bốn nhóm trách nhiệm chính: Trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm tuân thủ pháp luật; trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Trách nhiệm từ thiện Đóng góp cho cộng đồng Công dân doanh nghiệp tốt Trách nhiệm đạo đức Có đạo đức.Làm điều đúng đắn.
Tránh gây tổn hại Trách nhiệm pháp luật Tuân thủ pháp luật Trách nhiệm kinh tế Tạo ra lợi nhuận Hình 2.1: Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Carroll (1999) Nguồn: Caroll (1999) a) Trách nhiệm kinh tế: tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân. Hơn thế, doanh nghiệp là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội. Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải được đặt lên hàng đầu.Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. b) Trách nhiệm tuân thủ pháp luật: chính là sự cam kết của doanh nghiệp với xã hội.
Các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ pháp luật một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi.