Đặt vấn đề Chăn nuôi là một ngành truyền thống có từ lâu đời ở nước ta. Hiện nay, chăn nuôi lại càng phát triển mạnh cả về chất lượng và số lượng do tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng được đẩy mạnh để hội nhập với kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, chăn nuôi với quy mô trang trại đã được mở rộng và áp dụng quy trình công nghệ cao. Đồng thời, để đáp ứng mục tiêu hướng tới của thế kỷ XXI là sản xuất nguồn “thịt sạch” đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.
Cho nên, một số công ty đã chú trọng sản xuất các chế phẩm sinh học để phòng trị bệnh và kích thích khả năng sinh trưởng, sinh sản cho vật nuôi vừa an toàn lại hiệu quả cao. Một trong những chế phẩm sinh học đó có chế phẩm Biovet do Viện Khoa học Sự sống - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nghiên cứu. Chế phẩm sinh học vẫn là khái niệm còn rất mới so với sự ra đời của một số loại kháng sinh đã được phát hiện từ lâu, chưa thực sự tạo được lòng tin với người chăn nuôi. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Biovet đến khả năng sinh trưởng và sức đề kháng của lợn thịt nuôi tại Phường Cam Giá, Thành phố Thái Nguyên” nhằm chứng minh cho người chăn nuôi thấy chế phẩm sinh học có nhiều tác dụng và tốt khi sử dụng.
* Mục tiêu của đề tài: - Xác định ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Biovet đến khả năng sinh trưởng của lợn thịt. 15 - Xác định ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Biovet đến khả năng sử dụng và chuyển hóa thức ăn. - Xác định ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Biovet tới sức đề kháng của lợn thịt. - Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chế phẩm sinh học Biovet.
Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số hiểu biết về men BIOVET - Chế phẩm sinh học Biovet do Viện Khoa học sự sống – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên sản xuất. Đây là một loại chế phẩm mới đang được lưu hành và sử dụng trên thị trường.
- Khái niệm: Là men vi sinh vật bổ sung các vi sinh vật hữu hiệu, các vitamin và axit amin kích thích tiêu hóa, tăng tính thèm ăn, tăng sức đề kháng, phòng ngừa tiêu chảy, giảm mùi hôi phân. Hiệu quả trong phòng bệnh sưng phù dầu ( E.coli dung huyết) ở lợn con trước và sau cai sữa, bệnh hô hấp ở gà, vịt, ngan. - Chế phẩm Biovet có dạng bột, màu trắng, mùi thơm ngon được khuyến cáo là dùng cho tất cả các loài vật. - Trong 100g thành phẩm có: Lactobacillus: 5.1013CFU Bacillus subillis: 3.1010CFU Sac,cerevisiae: 7.1012CFU Vitamine B1: 100mg Lysine : 5g Methionine : 3g Chất mang vừa đủ: 1kg Độ ẩm (max): 10% 16 - Công dụng của men BIOVET: + Bổ sung các vi sinh vật hữu hiệu, vitamine và acid amin, kích thích tiêu hóa, tăng tính thèm ăn, hấp thụ thức ăn tốt.
+ Tăng trưởng nhanh, tăng sức đề kháng, phòng bệnh tiêu chảy và giảm mùi hôi của phân. + Hiệu quả phòng ngừa bệnh sưng phù đầu (E.coli dung huyết) ở lợn con trước và sau cai sữa, bệnh hô hấp ở gà, vịt, ngan. - Cách sử dụng: Trộn với thức ăn với tỉ lệ 100g/ 100kg thức ăn - Dạng trình bày: Đóng gói, men BIOVET có màu xanh sữa và mùi thơm. Đặc điểm sinh trưởng của lợn thịt * Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là sự tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng trưởng về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng các cơ quan và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di tính di truyền từ thế hệ trước, “thực chất sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của tế bào trong cơ thể”.
Sinh trưởng thường gắn liền với phát dục đó là quá trình thay đổi về bộ phận cơ quan. Sinh trưởng phát dục có mối quan hệ mật thiết không tách rời nhau mà ảnh hưởng hỗ trợ lẫn nhau, là quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể gia súc, gia cầm làm cho vật nuôi ngày càng hoàn chỉnh. Sự sinh trưởng phát dục của vật nuôi tuân theo quy luật nhất định, đó là quy luật sinh trưởng theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều và quy luật có tính chu kì. Hệ vi sinh vật đường ruột và tác động của hệ vi sinh vật đến sức khỏe vật nuôi Đường tiêu hóa đóng vai trò rất quan trọng đối với vật nuôi, là cơ quan hấp thu các chất dinh dưỡng, đồng thời là cơ quan miễn dịch lớn nhất trong cơ thể.
Đặc biệt, khu hệ vi sinh vật đường ruột là một trong các yếu tố chống lại các tác nhân gây bệnh. 17 Khi còn ở trong bào thai, đường tiêu hóa của vật nuôi ở trong trạng thái vô trùng, nhưng chỉ vài giờ sau khi sinh các vi sinh vật đã bắt đầu xâm nhập, cư trú và trở thành “cư dân” bình thường trong đường tiêu hóa. Theo thời gian, do tiếp xúc trực tiếp với môi trường đặc biệt qua thức ăn và nước uống, số lượng và tính đa dạng sinh học của các vi sinh vật cộng sinh không ngừng tăng lên. Số lượng tế bào vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa của vật nuôi có thể cao gấp mười lần số lượng tế bào cấu tạo nên cơ thể chúng.
Số lượng loài có thể lên tới từ 400 - 500. Tuy nhiên, mật độ vi sinh vật ở các phân đoạn khác nhau của đường tiêu hóa (dạ dày, tá tràng, ruột non và ruột già) ở loài động vật dạ dày đơn rất khác nhau (khoảng 101 - 103; 101 - 104; 105 - 108 và 109 - 1012 CPU/ml chất chứa tương ứng). Sự cộng sinh của các loài vi sinh vật trong đường tiêu hóa của vật nuôi (chủ yếu là trong ruột) tạo nên một hệ sinh thái mở và mối cân bằng của quần thể vi sinh vật được xác lập chỉ một thời gian rất ngắn sau khi sinh. Sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa bị tác động bởi một số nhân tố vô sinh và hữu sinh như: Sinh lý vật chủ, khẩu phần thức ăn, và cơ cấu nội tại của bản thân hệ vi sinh vật.
Thức ăn là nguồn dinh dưỡng cơ bản của vi sinh vật, bởi vậy sự thay đổi thành phần, khẩu phần thức ăn không đảm bảo vệ sinh, phương pháp cho ăn không hợp lý. đều làm tổn hại trạng thái cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột. Tương tự như vậy, các chất bài tiết của hệ tiêu hóa (dịch mật, các enzyme, chất đệm và các chất nhầy.) cũng như kiểu và tần số nhu động ruột cũng bị tác động trực tiếp đến hệ vi sinh vật. Kiểu và tần số nhu động ruột tác động rất lớn bởi các stress (sinh đẻ, cai sữa, dồn chuồng, vận chuyển).
Khi quan hệ cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ sẽ tạo nên trạng thái “dysbiosis”, trạng thái “chung sống có hại”. Biểu hiện của trạng thái “ dysbiosis”, ở vật chủ thường là thể trạng kém, sinh trưởng chậm và mắc các bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm ruột hoại tử. Để cải thiện quan hệ cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột ở vật 18 nuôi, một phương pháp thường được áp dụng là bổ sung vào khẩu phần thức ăn một số loại kháng sinh liều thấp như những chất kích thích sinh trưởng. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi đã và đang gây ra những hậu quả đáng lo ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là gây nên tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng của các vi sinh vật gây bệnh trên người và vật nuôi.
Việc cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi cũng đặt ra những thách thức lớn về kĩ thuật, đặc biệt đối với chăn nuôi gia súc gia cầm non hoặc trong điều kiện vệ sinh kém và vật nuôi chịu nhiều stress. Để vượt qua những thách thức đó, đã có rất nhiều những nghiên cứu nhằm tìm ra tác nhân để thay thế kháng sinh nhưng an toàn với vật nuôi. Một trong những tác nhân tìm ra đó là chế phẩm sinh học. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn con * Các yếu tố bên trong Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn.
Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau. Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thủy và các giống lợn đã được cải tiến, cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn. Sự khác nhau này không chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn hướng nạc, hướng mỡ (Trần Văn Phùng và cs, 2004)[7]. Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể.
Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone. Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kì đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên.
Hormone của thùy trước 19 tuyến yên STH (Somatotropin hormone) là loại hormone rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể. Khi thiếu hoặc thừa loại hormone này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (Nanismus) hoặc quá to (Gigantismus). * Các yếu tố bên ngoài - Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa, nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh. Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn, bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể.
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp, thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường, cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn.