Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp tại Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn đóng vai trò trọng yếu trong việc cung cấp thực phẩm chất lượng cao, phục vụ tiêu dùng nội địa và hướng tới xuất khẩu, đồng thời tạo nguồn phân bón cho trồng trọt và cung cấp phụ phẩm cho công nghiệp chế biến. Để nâng cao năng suất và tỷ lệ nạc, việc nhập khẩu và nuôi thích nghi các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh theo quy mô công nghiệp trang trại ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, một trong những thách thức kỹ thuật lớn nhất đối với đàn lợn nái sinh sản là sự mẫn cảm với điều kiện tiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam, dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh sản khoa tương đối cao. Trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc đường sinh dục của lợn nái rất dễ bị tổn thương cơ học hoặc nhiễm khuẩn cơ hội bởi các vi sinh vật như Streptococcus, Escherichia coli, Staphylococcus aureus... Các bệnh lý như viêm tử cung và viêm vú không bùng phát thành dịch ồ ạt nhưng gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng: làm tăng tỷ lệ chết thai, sảy thai, lưu thai, gây mất sữa, suy giảm khả năng tiết sữa nuôi con và làm giảm độ mắn đẻ hoặc gây vô sinh vĩnh viễn ở các lứa kế tiếp.
Nhằm tìm kiếm giải pháp hạn chế tổn thất kinh tế và nâng cao hiệu quả sinh sản cho đàn lợn nái ngoại nuôi tập trung, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
-
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng và tỷ lệ mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản nuôi theo phương thức công nghiệp tại trại lợn giống của Công ty Cổ phần Bình Minh.
- Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả lâm sàng của thuốc kháng sinh Vetrimoxin L.A kết hợp các thuốc bổ trợ trong phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Theo dõi, ghi chép và phân tích tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú theo giống lợn (Yorkshire và Landrace).
- Đánh giá sự biến động của tỷ lệ mắc bệnh theo các nhóm lứa đẻ (từ hậu bị đến lứa thứ 10).
- Khảo sát sự phân bố tỷ lệ nhiễm bệnh qua các tháng trong năm (từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016).
- Đánh giá ảnh hưởng của bệnh lý viêm nhiễm đường sinh dục đến năng suất và khả năng tái sinh sản của đàn lợn nái.
- Thực nghiệm so sánh hiệu quả điều trị thực địa giữa các phác đồ có sử dụng kháng sinh tác dụng kéo dài Vetrimoxin L.A.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản ngoại (bao gồm các cá thể lợn nái hậu bị và lợn nái sinh sản từ lứa 1 đến lứa thứ 10).
- Phạm vi không gian: Trại lợn gia công thuộc Công ty Cổ phần Bình Minh, đặt tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và theo dõi thực địa được tiến hành liên tục trong 6 tháng, từ ngày 18 tháng 11 năm 2015 đến ngày 18 tháng 05 năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt giải phẫu và sinh lý học, đường sinh dục của lợn nái bao gồm bộ phận sinh dục ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung sừng kép dài 50-100 cm, buồng trứng, ống dẫn trứng). Chu kỳ tính dục của lợn nái kéo dài 19-21 ngày, thời gian mang thai trung bình 114 ngày (biến động 113-115 ngày) và lợn mẹ thường động dục trở lại sau khi cai sữa con 3-5 ngày. Về mặt bệnh học, viêm tử cung là quá trình bệnh lý phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp thành tử cung do vi khuẩn cơ hội xâm nhập qua cổ tử cung mở trong lúc đẻ, lúc phối giống hoặc do can thiệp đỡ đẻ thô bạo. Tác giả phân loại viêm tử cung thành 3 thể bệnh: viêm nội mạc tử cung (thể cata cấp có mủ và thể có màng giả hoại tử), viêm cơ tử cung (kế phát từ viêm nội mạc hoại tử, làm tổn thương mạch quản và lớp cơ) và viêm tương mạc tử cung (thể nặng nhất, dịch viêm lan ra lớp phúc mạc, gây dính tổ chức xoang chậu và đe dọa nhiễm trùng huyết). Đối với viêm vú, bệnh thường xảy ra sau khi đẻ từ vài giờ đến 7 ngày, do vi khuẩn xâm nhập qua vết xước núm vú hoặc ứ đọng sữa gây tắc tuyến sữa, trực tiếp dẫn đến hội chứng MMA (Mastitis - Metritis - Agalactia: Viêm vú - Viêm tử cung - Mất sữa).
Về dược lý can thiệp, nghiên cứu sử dụng chế phẩm kháng sinh Vetrimoxin L.A với thành phần chính là Amoxycillin (dưới dạng muối Trihydrate) hàm lượng 20 g/100 ml. Thuốc hoạt động theo cơ chế ức chế quá trình tổng hợp mucopeptide trên thành tế bào vi khuẩn đang phân chia, có phổ diệt khuẩn rộng trên cả vi khuẩn Gram (+) (Streptococcus, Staphylococcus) và vi khuẩn Gram (-) (E. coli, Salmonella, Pasteurella). Dạng bào chế L.A (Long Acting) giúp hoạt chất khuếch tán nhanh vào các mô tổn thương và duy trì nồng độ điều trị kéo dài trong 48 giờ sau một lần tiêm bắp.
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra dịch tễ học và thử nghiệm lâm sàng:
- Phương pháp điều tra gián tiếp: Thu thập và phân tích dữ liệu lưu trữ từ sổ sách ghi chép của trại lợn qua các năm về quy mô đàn, tiền sử bệnh sản khoa và kết quả phối giống.
- Phương pháp điều tra trực tiếp: Theo dõi toàn bộ đàn lợn nái quy mô 190 con tại trại CP Bình Minh. Lập sổ theo dõi cá thể theo lứa tuổi, chu kỳ sinh sản; khám lâm sàng hàng ngày qua quan sát màu sắc niêm mạc âm hộ, tính chất và mùi của dịch tiết âm đạo, tình trạng căng nóng của bầu vú, đo thân nhiệt và phản ứng đau. Những lợn phát hiện bệnh được đánh dấu nhận diện bằng sơn chữ "V" đỏ trên lưng để theo dõi tiến triển.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị: Chọn 60 lợn nái có biểu hiện triệu chứng bệnh lâm sàng điển hình, phân ngẫu nhiên thành 2 lô thí nghiệm (mỗi lô 30 con), điều trị liên tục trong 5 ngày:
- Phác đồ 1: Vetrimoxin L.A tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng (tiêm cách nhật, 2 ngày/lần); kết hợp Oxytocin (2 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 ngày liên tục để kích thích dạ con co bóp tống dịch viêm); Analgin C (1 ml/7-10 kg thể trọng/ngày để hạ sốt, giảm đau); bổ sung Vitamin B-complex qua thức ăn hoặc nước uống.
- Phác đồ 2: Áp dụng cùng tổ hợp thuốc trợ lực, tiêu viêm nhưng điều chỉnh liều Vetrimoxin L.A ở mức 1 ml/10-15 kg thể trọng tiêm liên tục.
- Xử lý số liệu: Tính toán các tỷ lệ phần trăm theo công thức thống kê sinh vật học chuẩn (Chu Văn Mẫn, 2002) và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu bật vị trí của ngành chăn nuôi lợn trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa chăn nuôi với việc nhập khẩu các dòng nái ngoại cao sản có tỷ lệ nạc cao. Luận điểm trọng tâm của phần mở đầu là sự tương phản giữa năng suất tiềm năng của lợn nái ngoại và tính thích nghi kém trước điều kiện khí hậu, môi trường tại cơ sở, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh viêm vú, viêm tử cung cao. Bệnh lý này gây chết thai, sảy thai, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tiết sữa và gián tiếp gây tiêu chảy ở lợn con. Tác giả xác lập tính cấp thiết, mục tiêu đánh giá dịch tễ và kiểm chứng hiệu quả thực nghiệm của thuốc kháng sinh Vetrimoxin L.A nhằm đưa ra khuyến cáo thực tiễn cho cơ sở sản xuất.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở giải phẫu, sinh lý sinh dục gia súc cái, chu kỳ rụng trứng, thời điểm thụ tinh tối ưu (chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 tính từ khi bắt đầu động dục đối với nái ngoại). Điểm nhấn học thuật của chương là phân tích sâu cơ chế bệnh sinh của viêm tử cung và viêm vú: khi nội mạc tử cung viêm cấp, tế bào giải phóng prostaglandin F2alpha (PGF2alpha) làm thoái hóa thể vàng, giảm progesterone dẫn đến sảy thai; ngược lại ở thể mạn tính, ức chế PGF2alpha khiến thể vàng tồn tại dai dẳng, ngăn cản chu kỳ động dục tiếp theo. Tác giả lập bảng đối chiếu tiêu chuẩn phân biệt 3 thể viêm tử cung dựa trên các chỉ tiêu lâm sàng:
| Chỉ tiêu phân biệt |
Viêm nội mạc tử cung |
Viêm cơ tử cung |
Viêm tương mạc tử cung |
| Thân nhiệt |
Sốt nhẹ |
Sốt nhẹ |
Sốt cao |
| Màu sắc dịch viêm |
Trắng hoặc trắng xám |
Hồng hoặc nâu đỏ |
Nâu rỉ sắt |
| Mùi dịch viêm |
Tanh |
Tanh thối |
Thối khắm |
| Phản ứng đau |
Đau nhẹ |
Đau rõ hơn |
Đau dữ dội, cong lưng rặn |
| Trạng thái ăn uống |
Giảm ăn một phần |
Giảm ăn nhiều hoặc bỏ ăn |
Bỏ ăn hoàn toàn |
Bên cạnh đó, chương tổng quan phân tích dịch tễ các chủng vi sinh vật gây bệnh qua các công trình trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Đức Lưu) và ngoài nước (Popkov, Taylor, Urban, Gardner), khẳng định vai trò của việc can thiệp sớm bằng kháng sinh kết hợp kích thích co bóp tử cung cơ học.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Văn bản mô tả chi tiết quy mô đàn nghiên cứu gồm 190 nái thuộc giống Yorkshire và Landrace tại trại CP Bình Minh trong giai đoạn 18/11/2015 – 18/05/2016. Tác giả thiết lập quy trình theo dõi dịch tễ hai bước (gián tiếp qua hồ sơ trại và trực tiếp tại chuồng nuôi); quy định các chỉ tiêu lâm sàng nhận diện viêm tử cung (dịch mủ âm đạo, thân nhiệt, phản xạ rặn) và viêm vú (bầu vú sưng, nóng, đỏ, cứng, lợn con tiêu chảy hoặc thiếu sữa). Chương này cũng chuẩn hóa các công thức toán học xác định tỷ lệ mắc bệnh theo giống, lứa đẻ, tháng trong năm và tỷ lệ khỏi bệnh sau khi áp dụng 2 phác đồ điều trị thực nghiệm có sử dụng Vetrimoxin L.A.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương trình bày hai mảng công việc lớn: công tác phục vụ sản xuất thực tế tại trại và kết quả thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học.
Về công tác phục vụ sản xuất:
- Thực hiện nghiêm ngặt quy trình chăm sóc nái chửa theo định mức thức ăn (thức ăn 566 cho tuần 1-12 ăn 2 kg/ngày; tuần 13-14 ăn 3-3,5 kg/ngày; từ tuần 15 chuyển thức ăn 567 SF ăn 3-3,5 kg/ngày; giảm thức ăn trước đẻ 3 ngày xuống 1,5 kg/bữa).
- Quy trình vệ sinh tiêu độc bằng Omicide (320 ml/1000 lít nước), xử lý đan chuồng đẻ bằng NaOH 10%, vôi xút và rắc vôi bột định kỳ theo lịch tuần.
- Thực hiện lịch tiêm phòng vaccine Coglapest (Dịch tả), Aftopor (LMLM), Begonia (Giả dại), Pavo (Khô thai) và PRRS (Tai xanh) cho nái và đàn lợn con.
- Đạt kết quả trực tiếp: đỡ đẻ an toàn 296 ca; tiêm phòng vaccine cho 1.156 lượt nái; điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con đạt tỷ lệ khỏi 98,49% (1.509/1.532 con) bằng Nova-Ampicol và Nor-100; điều trị viêm phổi lợn con đạt tỷ lệ khỏi 95,86% (278/290 con) bằng Tylogenta; cắt nanh cắt đuôi 237 con; tiêm sắt Fe-Dextran B12 cho 398 con; phòng cầu trùng Totrazil cho 1.876 con và thiến 216 lợn đực an toàn 100%.
Về kết quả chuyên đề bệnh học:
- Trong 190 nái theo dõi, có 56 nái mắc bệnh viêm tử cung (tỷ lệ 29,47%) và 4 nái mắc bệnh viêm vú (tỷ lệ 2,10%), không có cá thể chết.
- Tỷ lệ viêm tử cung ở giống Landrace (31,34%) cao hơn giống Yorkshire (28,45%), trong khi viêm vú ở Yorkshire là 2,43% và Landrace là 1,49%. Sự khác biệt giữa hai giống ngoại là không lớn do cùng có nguồn gốc xứ lạnh nhập nội.
- Khảo sát theo lứa đẻ cho thấy lợn nái hậu bị không mắc bệnh (0%). Tỷ lệ viêm tử cung tăng vọt từ lứa đẻ thứ 5-6 (58,62%) và lứa 7-8 (57,14%), cao hơn rõ rệt so với lứa 1-2 (30,00%) và lứa 3-4 (18,75%). Nguyên nhân do nái đẻ nhiều lứa có cơ tử cung nhão, giảm trương lực co bóp, thời gian rặn đẻ kéo dài dẫn đến sát nhau và phải can thiệp trợ sản bằng tay.
- Khảo sát theo tháng ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh tăng dần từ mùa đông sang mùa hè: tháng 12/2015 mắc 20,00%, tăng dần qua các tháng 1 (23,33%), tháng 2 (30,00%), tháng 3 (31,25%), tháng 4 (32,35%) và đạt cao nhất vào tháng 5/2016 (40,62%) do thời tiết chuyển mùa oi bức làm nái mệt mỏi, giảm sức đề kháng và tạo điều kiện cho vi khuẩn môi trường nhân lên.
- Về kết quả điều trị thực tế: Trong toàn bộ đợt thực tập, tác giả đã điều trị 56 ca viêm tử cung, chữa khỏi 54 con (đạt tỷ lệ 96,42%); điều trị 4 ca viêm vú, chữa khỏi cả 4 con (đạt tỷ lệ 100%).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tổng kết lại các chỉ số dịch tễ cốt lõi và kết quả điều trị. Tác giả kiến nghị ban quản lý trại cần chú trọng công tác vệ sinh chuồng đẻ, tuân thủ đúng kỹ thuật đỡ đẻ vô trùng, hạn chế tối đa việc can thiệp móc thai bằng tay không đúng kỹ thuật, kiểm soát chặt chẽ chế độ dinh dưỡng trước đẻ và cân nhắc loại thải nái già sau lứa đẻ thứ 7-8 để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về tình hình bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại tại trang trại quy mô công nghiệp:
| Nhóm phân loại |
Tiêu chí khảo sát |
Số nái theo dõi (con) |
Viêm tử cung: Số ca (Tỷ lệ %) |
Viêm vú: Số ca (Tỷ lệ %) |
| Toàn đàn |
Tổng số khảo sát |
190 |
56 (29,47%) |
4 (2,10%) |
| Theo giống |
Yorkshire |
123 |
35 (28,45%) |
3 (2,43%) |
|
Landrace |
67 |
21 (31,34%) |
1 (1,49%) |
| Theo lứa đẻ |
Hậu bị |
38 |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
|
Lứa 1 - 2 |
60 |
18 (30,00%) |
1 (1,66%) |
|
Lứa 3 - 4 |
32 |
6 (18,75%) |
0 (0,00%) |
|
Lứa 5 - 6 |
29 |
17 (58,62%) |
2 (6,89%) |
|
Lứa 7 - 8 |
21 |
12 (57,14%) |
1 (4,76%) |
|
Lứa 9 - 10 |
10 |
3 (30,00%) |
0 (0,00%) |
| Theo thời gian |
Tháng 12/2015 |
30 |
6 (20,00%) |
1 (3,33%) |
|
Tháng 01/2016 |
30 |
7 (23,33%) |
0 (0,00%) |
|
Tháng 02/2016 |
30 |
9 (30,00%) |
2 (6,66%) |
|
Tháng 03/2016 |
32 |
10 (31,25%) |
0 (0,00%) |
|
Tháng 04/2016 |
34 |
11 (32,35%) |
1 (2,94%) |
|
Tháng 05/2016 |
32 |
13 (40,62%) |
0 (0,00%) |
Về mặt giải pháp kỹ thuật, nghiên cứu đã chuẩn hóa phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung tại trại: kết hợp tiêm bắp Oxytocin (2 ml/con) nhằm tống sạch dịch viêm ứ đọng, hạ sốt giảm đau bằng Analgin C (1 ml/10 kg TT/ngày), tiêm kháng sinh tác dụng kéo dài Vetrimoxin L.A (1 ml/10 kg TT/lần, cách nhật 2 ngày/lần) trong 5 ngày và thụt rửa tử cung bằng nước muối ấm (3 lít/lần/ngày) đối với các ca phải can thiệp đỡ đẻ bằng tay. Phác đồ này đem lại tỷ lệ khỏi bệnh thực tế đạt 96,42% đối với viêm tử cung và 100% đối với viêm vú.
So sánh với các nghiên cứu trước đó, tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ghi nhận tại trại CP Bình Minh (29,47%) cao hơn đáng kể so với con số dưới 2% mà Nguyễn Văn Thanh (2007) từng công bố trên đàn lợn nái nuôi tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Tác giả luận giải sự chênh lệch này xuất phát từ đặc thù chăn nuôi tập trung mật độ cao của trại công nghiệp, tầm vóc thai của lợn ngoại lớn dẫn đến tần suất công nhân phải can thiệp cơ học bằng tay khi đẻ khó cao, kết hợp với điều kiện chuồng nuôi chật hẹp khiến lợn nái thiếu vận động trong giai đoạn mang thai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế tại cơ sở sản xuất:
- Các chẩn đoán bệnh viêm vú, viêm tử cung và phân loại thể viêm hoàn toàn dựa trên quan sát triệu chứng lâm sàng và tính chất dịch tiết đại thể, chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy, phân lập vi sinh vật và làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm.
- Nghiên cứu chỉ theo dõi diễn biến dịch tễ trong phạm vi 6 tháng (từ tháng 11/2015 đến tháng 5/2016), chưa phản ánh được toàn diện chu kỳ thời tiết trọn vẹn cả năm, đặc biệt là các tháng cao điểm nắng nóng và mưa ẩm kéo dài của mùa hè - thu.
- Tác giả chưa theo dõi sâu các chỉ tiêu sinh sản định lượng ở các lứa đẻ tiếp theo của những nái sau khi được chữa khỏi bệnh (như số con sơ sinh sống/lứa, tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu, khoảng cách giữa hai lứa đẻ).
Hướng mở rộng nghiên cứu được rút ra:
- Cần bổ sung xét nghiệm vi sinh học nhằm xác định chính xác các loài vi khuẩn chủ yếu (E. coli, Streptococcus, Staphylococcus...) gây bệnh viêm tử cung tại trại và kiểm tra mức độ nhạy cảm của chúng đối với các loại kháng sinh mới.
- Mở rộng phạm vi theo dõi dịch tễ học trong 12 tháng liên tục để đánh giá tác động mùa vụ toàn diện.
- Theo dõi dài hạn năng suất sinh sản thực tế của đàn nái sau điều trị nhằm đánh giá toàn diện giá trị kinh tế của phác đồ Vetrimoxin L.A.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi Thú y và Bác sĩ thú y cơ sở: Nguồn tư liệu thực tế để củng cố kỹ năng nhận định triệu chứng lâm sàng các thể viêm tử cung thông qua Bảng 2.1; nắm vững cơ chế tác dụng của kháng sinh Amoxycillin dạng kéo dài (Vetrimoxin L.A) phối hợp hormone kích thích co bóp tử cung Oxytocin trong điều trị sản khoa.
- Kỹ thuật viên và cán bộ quản lý trang trại lợn nái sinh sản: Tham khảo quy trình chăn nuôi chi tiết từ định mức thức ăn cho từng tuần tuổi mang thai (thức ăn 566 và 567 SF), quy trình chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, cũng như hệ thống lịch sát trùng chuồng trại (Bảng 4.1) và lịch tiêm phòng vaccine định kỳ cho đàn nái và lợn con (Bảng 4.2).
- Người nghiên cứu về bệnh học sinh sản gia súc: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm về mối tương quan giữa lứa đẻ, giống lợn ngoại và mùa vụ với tỷ lệ mắc các bệnh đường sinh sản trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp tại miền Bắc Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú trên đàn lợn nái tại trại CP Bình Minh là bao nhiêu?
Trong tổng số 190 nái sinh sản được theo dõi, có 56 con mắc bệnh viêm tử cung (chiếm tỷ lệ 29,47%) và 4 con mắc bệnh viêm vú (chiếm tỷ lệ 2,10%). Toàn bộ các ca bệnh đều không ghi nhận trường hợp nào bị chết.
2. Lứa đẻ ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái?
Lợn nái hậu bị hoàn toàn không mắc bệnh (0%). Tỷ lệ mắc bệnh ở lứa 1-2 là 30,00%, lứa 3-4 giảm xuống 18,75%, nhưng tăng đột biến từ lứa thứ 5 trở đi: lứa 5-6 đạt 58,62%, lứa 7-8 đạt 57,14% và lứa 9-10 là 30,00%. Nguyên nhân do nái đẻ nhiều lứa có thể trạng giảm sút, cơ tử cung co bóp yếu dẫn đến đẻ khó, sót nhau và phải can thiệp trợ sản bằng tay gây tổn thương niêm mạc.
3. Giữa hai giống lợn ngoại Yorkshire và Landrace, giống nào có tỷ lệ mắc bệnh sinh sản cao hơn?
Tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giống không có sự chênh lệch lớn: giống Landrace có tỷ lệ mắc viêm tử cung là 31,34% (21/67 con) và viêm vú là 1,49% (1/67 con); trong khi giống Yorkshire có tỷ lệ mắc viêm tử cung là 28,45% (35/123 con) và viêm vú là 2,43% (3/123 con). Tác giả nhận định do cả hai giống đều là giống ngoại nhập có nguồn gốc xứ lạnh nên khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh tại Việt Nam là tương đương nhau.
4. Phác đồ sử dụng Vetrimoxin L.A điều trị viêm tử cung tại trại được thực hiện như thế nào và đạt tỷ lệ khỏi bao nhiêu?
Phác đồ sử dụng Vetrimoxin L.A tiêm bắp với liều 1 ml/10 kg thể trọng (tiêm 2 ngày/lần, điều trị trong 5 ngày), kết hợp tiêm bắp Oxytocin (2 ml/con/ngày trong 3 ngày), tiêm Analgin C (1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày trong 5 ngày) và thụt rửa tử cung bằng nước muối ấm 3 lít/lần/ngày đối với nái đẻ khó phải can thiệp móc thai. Kết quả thực tế tại trại đã điều trị khỏi 54 trên tổng số 56 ca viêm tử cung, đạt tỷ lệ khỏi 96,42%.
5. Ngoài đề tài chính, tác giả đã tham gia xử lý các bệnh lý và công tác kỹ thuật nào tại trại?
Tác giả đã tham gia đỡ đẻ an toàn 296 ca, tiêm phòng vaccine cho 1.156 lượt nái; điều trị 1.532 ca lợn con tiêu chảy (khỏi 1.509 con, đạt 98,49%) bằng Nova-Ampicol và Nor-100; điều trị 290 ca viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae (khỏi 278 con, đạt 95,86%) bằng Tylogenta; thực hiện phòng bệnh cầu trùng Totrazil cho 1.876 lợn con, bổ sung Fe-Dextran B12 cho 398 con và thiến an toàn 216 lợn đực con.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hữu Hải đã phản ánh rõ thực trạng dịch tễ bệnh viêm tử cung (29,47%) và viêm vú (2,10%) trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn giống CP Bình Minh, Mỹ Đức, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng tăng cao rõ rệt ở nhóm nái đẻ từ lứa thứ 5 trở đi và vào thời điểm thời tiết chuyển mùa oi bức trong các tháng 4 và 5. Việc ứng dụng phác đồ kết hợp kháng sinh tác dụng kéo dài Vetrimoxin L.A với hormone co bóp tử cung Oxytocin và các thuốc bổ trợ đã chứng minh hiệu quả lâm sàng vượt trội với tỷ lệ chữa khỏi đạt 96,42% đối với viêm tử cung và 100% đối với viêm vú, cung cấp cơ sở kỹ thuật thực chứng phục vụ công tác thú y và quản lý đàn nái sinh sản tại các trang trại chăn nuôi công nghiệp.