Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí phân loại, một số giống ngựa trong và ngoài nước 1. Vị trí của ngựa trong hệ thống phân loại động vật Theo tác giả Đặng Đình Hanh và Phạm Sỹ Lăng (2008) [12] cho biết, ngựa có hệ thống phân loại động vật như sau: Ngựa thuộc giới động vật: Animal Ngành có xương sống: Chordata Ngành phụ có xương sống: Vertebrta Lớp có vú: Mammalia Bộ guốc lẻ: Perissdactyla Họ: Equssdae Chủng: Equus Loài: Equus caballus Tên: Caballus 1. Các giống ngựa trong nước Ngựa là loài thuộc bộ móng guốc, bốn chân cao chắc khỏe thích ứng với việc đi lại, chạy và làm việc được trên nhiều loại địa hình đường đi khác nhau.
Ngựa thuộc loài rất nhạy cảm và nguồn gốc lâu hơn chó mèo. Hơn nữa, chúng tồn tại lâu hơn và phát triển rất nhanh thành rất nhiều giống. *Giống ngựa Việt Nam Đây là giống ngựa mang đặc tính thồ là chủ yếu, một phần sử dụng để kéo ở vùng núi, trung du và đồng bằng. Ngựa Việt Nam có sức chịu đựng kham khổ cao, sức chống đỡ bệnh tật tốt, đi lại được ở mọi địa hình núi cao, hạn chế lớn nhất của chúng là có tầm vóc nhỏ, ngoại hình chưa cân đối.
Theo 5 Đặng Đình Hanh và Phạm Sỹ Lăng (2008) [12], ngựa Việt Nam có những đặc điểm như sau: - Thồ hàng: 40-50kg - Kéo xe: 400-500kg - Chạy: đạt 25-28km/giờ - Sức giật khi keo xe:100kg - Tỷ lệ thụ thai: 76,7% - Tỷ lệ đẻ: 83,8%. - Kích thước một số chiều đo và khối lượng của ngựa Việt Nam: ĐVT: cm Thể Tính Cao Dài thân Vòng Vòng Địa phương trọng biệt vây chéo ngực ống (kg) Đực 116,6 114,6 128 14,4 172 Thái Nguyên Cái 115,6 113,7 126,8 13,8 168 Đực 113 114,5 130,2 15,9 178 Cao Bằng Cái 109,7 107,2 129,8 15,7 164 Đực 111,6 113,5 132,5 17 182 Lai Châu Cái 110,6 113,1 130,6 15,9 176 Đực 110,3 111 128,4 15,2 168 Hà Giang Cái 109,1 110 127,1 14,3 164 * Giống ngựa Bạch Hiện nay, ở nước ta ngựa bạch được phân bố rải rác tại các tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lai Châu, Bắc Giang… giống ngựa này có khả năng làm việc tốt, chịu được kham khổ, ngoài ra xương ngựa bạch còn được dùng để nấu cao bồi bổ sức khỏe. 6 Nhìn tổng thể toàn thân ngựa từ lông, da, bờm, lông đuôi, màu mắt đến móng chân đều có màu trắng hoặc trắng hồng. Ở nước ta hiện nay, ngựa bạch rất được coi trọng đứng thứ 2 sau hổ, vì vậy có nguy cơ tuyệt chủng rất cao.
Hội thú y Việt Nam kết hợp cùng Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Miền Núi hợp tác duy trì nòi giống, tỷ lệ đẻ của ngựa bạch khoảng 50- 60% tổng cái sinh sản. Hiện nay Hội thú y Việt Nam đã xây dựng một cơ sở chăn nuôi tại xã Yên Mỹ - Thanh Trì - Hà Nội đang nuôi 40-50 con ngựa bạch để giữ giống và phát triển phục vụ cộng đồng. Những con không đẻ được, đủ tiêu chuẩn nấu cao sẽ được nấu theo quy trình dân gian 7 ngày 7 đêm. Sau nhiều năm học hỏi kinh nghiệm, hiện nay có một số hộ dân ở các tỉnh cũng biết chăn nuôi ngựa bạch.
Trong đó, ở làng Phẩm xã Dương Thành - Phú Bình - Thái Nguyên có những hộ đã thành công trong việc nhân giống. Năm 2008 các hộ chăn nuôi ngựa bạch được Trung tâm hỗ trợ thành lập hội chăn nuôi ngựa bạch với 36 thành viên. Đến nay, Hội chăn nuôi ngựa bạch xã Dương Thành đã có trên 45 hội viên tham gia và có trên 350 ngựa. Đa phần các gia đình chăn nuôi ngựa bạch để kinh doanh thì sau khi mua về sẽ nuôi vỗ béo từ 3 - 6 tháng được giá chênh lệch lai cao là bán hoặc mổ thịt bán, giữ lại xương để nấu cao thu lãi 50 - 70 triệu đồng/năm, nhiều hộ gia đình thu lãi 30 triệu đồng/năm.
Thức ăn nuôi vỗ béo bằng cỏ cắt tận dụng 7 ở bờ ruộng, ngô cây, nấu cháo hoặc cám gạo hoà lẫn nước vo gạo, cơm canh thừa tận dụng cho ngựa ăn, hàng ngày có tắm chải và vệ sinh chuồng trại. Nhìn chung chưa có tác động gì về khoa học kỹ thuật trong khâu chọn giống, phối giống, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, sử dụng. Một số hộ do thiếu vốn nên được nhận con giống theo hình thức nuôi khoán trả thù lao mỗi tháng từ 200.000đ/con nếu ngựa bị chết phải chịu trách nhiệm, khi nào người giao khoán yêu cầu thì người nhận nuôi phải đem ngựa trả, hình thức này tương đối phổ biến ở nông thôn hiện nay vì cả người giao và người nhận nuôi khoán đều có lợi, còn việc nuôi ngựa bạch để sinh sản thì không có nhiều. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hưng Quang và cs 2014 [29], thì ngựa bạch ở giai đoạn 12 tháng tuổi có khối lượng là 115,6kg, một số chiều đo như CV đạt 103,7cm, VN đạt 101,8cm và DTC là 102,5cm, ngựa trưởng thành 186,5kg.
* Dòng ngựa Lai Ở nước ta hiện nay dòng ngựa lai chủ yếu dùng ngựa giống Cabardin của Liên Xô, đây là một giống ngựa kiêm dụng thồ, kéo, cưỡi, được lai tạo với ngựa Việt Nam nhằm nâng cao tầm vóc, thể trọng và sức làm việc của ngựa Việt Nam. Ngựa lai có thể trọng cao hơn và nhiều ưu điểm hơn ngựa Việt Nam. Ngựa lai có chiều cao trung bình 122-125cm. Hiện nay tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Miền Núi ở Bình Sơn - Sông Công 8 đang nuôi giữ giống ngựa Cabardin thuần chủng để tạo ra nhiều loại ngựa lai có chất lượng ổn định đồng thời giúp các trạm truyền giống tiếp tục lai tạo nâng cao chất lượng ngựa địa phương.
Theo Nguyễn Hữu Trà và cs 2015 [43], cao vây của ngựa trưởng thành nuôi tại Đức Hòa - Long An là 142,45cm, ngựa đực trưởng thành đạt 368,34kg. Một số giống ngựa trên thế giới * Giống ngựa Cabardin ( Liên Xô) Đây là giống ngựa kiêm dụng cưỡi thồ, được nhập vào nước ta từ lâu hiện đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Miền Núi để cải tại giống ngựa địa phương. Theo tác giả Đặng Đình Hanh và Phạm Sỹ Lăng 2008 [12], ngựa Cabardin có kích thước như sau: Kích thước Con đực (cm) Con cái (cm) Cao vây 155,5 149,8 Vòng ngực 180,1 179,0 Vòng ống 19,7 18,6 * Giống ngựa Mông Cổ Là giống ngựa vùng thảo nguyên, tầm vóc không lớn nhưng có sức chịu đựng dẻo dai và chịu được điều kiện khô hạn của thảo nguyên. 9 Ngựa Mông Cổ là giống ngựa kiêm dụng vừa làm việc vừa khai thác sữa phục vụ cho con người.
Ngựa cái được chọn lọc và nuôi dưỡng tốt có thể cho 1 lít sữa/con/ngày. Kích thước của ngựa cái như sau: Cao vây: 129,6 cm Vòng ngực: 154,2 cm Dài thân chéo: 134,2 cm Vòng ống: 16,8 cm * Giống ngựa Ả Rập Ngựa Ả Rập từ lâu đã rất nổi tiếng là giống ngựa có ngoại hình và màu sắc đẹp được nhiều nước dùng làm nguyên liệu để cải tạo giống ngựa địa phương. Chúng có một số đặc điểm như sau: Kích thước Con đực (cm) Con cái (cm) Cao vây 153,8 151,4 Dài thân chéo 154,7 151,7 Vòng ngực 177,7 173,7 Vòng ống 19,3 18,7 - Kỷ lục chạy: + 1600m hết 1 phút 5 giây + 2000m hết 2 phút 13 giây + 3200m hết 3 phút 40 giây + 4000m hết 4 phút 42 giây + 7000m hết 8 phút 50 giây 10 1. Một số phương thức chăn nuôi ngựa hiện nay Ngựa được chăn nuôi rộng khắp các vùng lãnh thổ của nước ta, với tập quán và hướng sử dụng khác nhau đã tạo nên các phương thức chăn nuôi khác nhau.
- Phương thức chăn nuôi bầy đàn: Ngựa được chăn nuôi với số lượng vừa phải trong các hộ gia đình hay các trang trại với mục đích sinh sản. Phương thức này đã tồn tại từ lâu đời đối với những dân du mục ở các vùng thảo nguyên hoặc những vùng chăn nuôi chưa phát triển, với phương thức này thì ngựa đực và ngựa cái được nuôi chung đàn, phối giống tự do, ít có sự tác động của con người. Ở nước ta phương thức này đã tồn tại ở một số địa phương như: Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lào Cai… Ngựa được quản lý tại hộ gia đình trong vụ trồng trọt, những ngày ngựa ðýợc thả rông cũng là mùa sinh sản, ngựa ðực và ngựa cái được phối giống tự do. Phýõng thức chãn nuôi này cho năng suất rất thấp, dẫn đến khả nãng sinh trưởng kém.
- Phương thức chăn nuôi bán chăn thả, phương thức này được áp dụng ở những hộ chăn nuôi có định hướng, có mục đích, người chăn nuôi có chọn giống, có tác động của khoa học kỹ thuật và tuyển chọn ngựa theo mục đích riêng. Theo Heriquez và cs (1980) [52], thì phương thức này có hai hình thức chăn nuôi đó là: Chăn nuôi ngựa theo từng cá thể: Những ngựa đực và ngựa cái chuyên dùng cho nhân giống, hoặc chuyên dùng cho việc sản xuất gắn liền với từng hộ gia đình và những yêu cầu nhất định của người chăn nuôi, ngựa được tuyển chọn theo mục đích riêng và được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng riêng biệt. Việc chăn thả ngựa chỉ là vận động hoặc vận động có quy trình kỹ thuật. Phương thức chăn nuôi này đã có tổ chức phối giống, có sự theo dõi chặt chẽ ngựa đực và ngựa cái, có áp dụng kỹ thuật phối giống và theo dõi đánh giá khả năng sinh sản của ngựa.
Sử dụng phương thức chăn nuôi này nếu người 11 chăn nuôi không được trang bị đầy đủ về quy trình kỹ thuật sinh sản của ngựa thì tỷ lệ thụ thai thấp. Chăn nuôi theo nhóm được áp dụng tại các hộ gia đình hoặc các trang trại, số lượng ngựa đực và ngựa cái được điều chỉnh theo tỷ lệ và được tuyển chọn nuôi kết hợp sinh sản và làm việc. Phương thức chăn nuôi này có thể áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất định trong việc chọn giống và nâng cao năng suất sinh sản. Ở nước ta hiện nay phương thức chăn nuôi thả rông tại các tỉnh miền núi mang tính phổ biến, còn ở trung du thì phương thức chăn dắt là phổ biến.
Do việc phối giống là hoàn toàn ngẫu nhiên và không có sự tác động kiểm soát của con người dẫn đến mức độ cận huyết cao. Riêng ngựa cái bạch được theo dõi và phối giống có chọn lọc với những đực bạch tốt. Chính vì vậy mà ngựa bạch gần đây đã được người chăn nuôi quan tâm và phát triển với số lượng lớn. Nhưng chỉ ở các trung tâm nghiên cứu, việc quản lý và ghép đôi giao phối được kiếm soát chặt chẽ nên khống chế được yếu tố cận huyết.