Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nguồn gốc, đặc điểm chung của chim bồ câu 1. Nguồn gốc của chim bồ câu Theo Bùi Hữu Đoàn (2009) và Nguyễn Duy Điều (2008) thì bồ câu thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ bồ câu Columbiformes gồm những loài chim đi chậm nhưng bay rất khỏe như bồ câu, cu gáy.
Gốc mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính. Bồ câu nhà hiện nay đều có nguồn gốc từ bồ câu núi màu lam có tên khoa học là Columbalivia thuộc giới (king dom): Animat, ngành (plylum): Chortada, lớp (class): Aves, bộ (order): Columbiormes, họ (Family): Columbidae, giống (Genus): Columba, Loài (species): Columbalivia. Chim bồ câu núi hiện còn sống hoang dã ở nhiều vùng Châu Âu, Châu Á và Bắc Phi. Ngày nay chúng sinh sống trên 50 quốc gia khác nhau với các vùng sinh thái khác nhau (trừ vùng Nam Cực).
Các di tích hóa thạch cho thấy chim bồ câu đã sống ở Jordan và Palestin vào khoảng 300.000 năm trước công nguyên. Một số loài được biết nhiều nhất sống hoang dã hay còn gọi là chim bồ câu sống lang thang, tổ tiên của chúng sống ở Châu Á và Châu Âu, được gọi là “chim bồ câu đá”, dài khoảng 33 cm, phía trên mình xanh xám, với những chấm đen ở cánh và ở phía đuôi (phao câu) màu hơi trắng; phía dưới là màu hơi đỏ tía ở phần ngực và xanh phớt ở phần bụng. Xung quanh cổ đặc biệt là con đực, óng ánh nhiều màu sắc. Hơn 200 giống chim bồ câu nhà (cũng như chim bồ câu rừng) bắt nguồn từ chim bồ câu đá (pigeon des roches), còn có tên gọi khác là chim bồ câu bipel (Columbus livia).
Đặc điêm chung của chim bồ câu Toàn thân chim bồ câu có lông vũ bao phủ. Mình chim hình thoi, cổ dài rất linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, mổ thức ăn, tấn công hay tự vệ, rỉa lông cánh. Bồ câu có bản năng ấp trứng tốt, nuôi con giỏi. Chim bồ câu là loại gia cầm đơn phối không tạp giao với con thứ ba, chúng sống thành đôi, trường hợp nuôi lồng cũng như sống tự do.
Bồ câu là loài chim có nhiều biến dị về màu lông: đen, trắng, nâu đen khá đẹp và sặc sỡ. Da chim bồ câu rất mỏng không có tuyến nhờn chỉ có tuyến ở gần đuôi gọi là tuyến phao câu tiết ra chất nhờn dùng để rỉa lông cho bóng đẹp. Chim bồ câu có tính quần cư cao, nuôi riêng hoặc nuôi theo bầy thì hiện tượng ẩu đả rất ít. Chúng thường cùng ăn, cùng nghỉ.
Chim bồ câu còn có tính đồng loại cao: khi trứng bỏ không mà vẫn tốt thì chúng sà xuống ấp hộ ngay. Như vậy trong chăn nuôi chim bồ câu theo phương pháp thâm canh thì chúng ta có thể tiến hành ghép ấp và ghép nuôi con để nâng cao năng suất sinh sản. Ghép ấp được thực hiện đối với những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 1 – 2 ngày và số trứng ghép tối đa trên một ổ ấp là 3 quả/ổ. Tương tự như vậy ta cũng có thể ghép những con có cùng ngày nở hoặc tuổi chênh lệch nhau 1 – 2 ngày và số con ghép tối đa là 3 con/ổ.
Nguyên thủy của loài chim bồ câu thường sống ở vùng duyên hải uống nước biển, vậy nên trải qua thời gian được con người thuần dưỡng tới nay chim vẫn còn quen với vị mặn. Do đó trong chăn nuôi chim bồ câu phải bổ sung khoáng lượng, muối ăn và sỏi là rất cần thiết để đảm bảo cho chim phát triển bình thường. Thức ăn chủ yếu của chim bồ câu là loại ngũ cốc, đặc biệt chúng thích ăn các loại đậu đỗ và hạt có màu, nhưng trong tự nhiên chúng không chỉ ăn hạt và trái cây mà chúng còn ăn cả các loại côn trùng và ấu trùng, đặc biệt là khi còn nuôi con. Bồ câu là loài chim có khả năng đặc biệt để nhận biết và định Luan van 5 hướng đường đi về trên một khoảng cách rất xa một cách chính xác do cảm quan của chim bồ câu rất phát triển.
Khả năng nhận biết phương hướng của chim rất tốt cho dù nuôi riêng trong lồng nhưng khi thả ra thì trong hàng nghìn chuồng, hàng ngàn chim nó vẫn nhận đúng chuồng của mình. Trong chăn nuôi dựa vào điều này người ta cho chim hình thành phản xạ có điều kiện giúp trong chăn nuôi thuận tiện và đạt hiệu được năng suất cao hơn (Trần Công Xuân và Nguyễn Thiện, 1997). Khả năng bay của chim rất tốt, chúng có thể bay với tốc độ đạt 80 - 120 km/giờ và bay 965 - 1. Giống như các loài chim khác, ở chim bồ câu cũng diễn ra quá trình thay lông thường xuyên.
Trong quá trình thay lông ở chim bồ câu vẫn duy trì khả năng bay, sự thay lông ở thân thường diễn ra nhanh hơn so với lông cánh, đặc biệt lông đầu thay nhanh nhất. Trong quá trình thay lông, chim bồ câu vẫn sinh sản bình thường mà không nghỉ đẻ như các loài gia cầm khác. Sau khi ghép đôi thì khoảng 7 – 10 ngày sau chim mái đẻ trứng. Trứng chim có hình bầu dục, vỏ sáng màu trắng.
Khối lượng trứng chim nội 16 – 18 g, ở chim ngoại khối lượng to hơn. Ấp trứng là bản năng tự nhiên của chim. Thông thường chim đẻ 2 trứng xong mới ấp. Chim bồ câu, cả ở con trống và con mái đều tham gia ấp trứng.
Trong lúc ấp trứng, có nhiều biến đổi xảy ra ở cơ thể chim bồ câu bố mẹ, giúp chúng sản xuất ra chất dinh dưỡng cho chim non trong những ngày đầu mới nở: dịch diều (sữa diều). Sữa diều chim bồ câu chứa 14 – 16% protein và 8 – 10% chất béo; ngoài ra còn có chất khoáng, vitamin, nhưng không có hoặc rất ít đường. Vào ngày thứ 17 – 18, sự tiết sữa đạt mức cao nhất, kéo dài trong 7 – 8 ngày sau đó giảm dần. Thành phần sữa diều bị ảnh hưởng bởi khẩu phần ăn của chim bố mẹ.
Nếu khẩu phần của chim bố mẹ thiếu chất dinh dưỡng thì chúng phải huy động chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể để tiết sữa cho chim non. Trong những ngày đầu mới nở, “sữa” là thức ăn duy nhất của chim non. Từ ngày thứ 4, 5 chim bố mẹ chuyển thêm vào sữa cả thức ăn, chúng đưa thức ăn vào Luan van 6 trước, đó là những hạt bé, đến ngày thứ 12 - 15 thì chim non hoàn toàn ăn và tiêu hoá được thức ăn bình thường. Ở 12 ngày tuổi là thời điểm quyết định đối với bồ câu non, nó tương ứng với thời điểm cai sữa của chim bố mẹ.
Tuy vậy, cũng có khi sự tiết sữa kéo dài đến tận ngày thứ 25, nhưng với một lượng sữa rất ít. Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả chăn nuôi, được thể hiện gián tiếp thông qua tỷ lệ nuôi sống. Sức sống và khả năng kháng bệnh bị chi phối bởi các yếu tố bên trong cơ thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh như nuôi dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, dịch tễ, chuồng trại. Johanson (1972) cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng cơ thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh.
Lê Viết Ly (1995) cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị tress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, chống bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi vùng ôn đới. Điều kiện sống cũng ảnh hưởng đến sức sống và khả năng kháng bệnh của vật nuôi. Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) cho biết, dù chăn nuôi theo phương thức nào thì đàn gia cầm nuôi tập trung đều có số lượng lớn các tác nhân truyền nhiễm bệnh là vi khuẩn, cho nên việc phòng dịch bệnh phải thường xuyên, một biện pháp đảm bảo an toàn sinh học.
Sức đề kháng ở các loài, giống, dòng, thậm chí giữa các cá thể là khác nhau. Kết quả nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs (1998a), ở giai đoạn 0 – Luan van 7 28 ngày tuổi, tỷ lệ nuôi sống của chim bồ câu Pháp ở thế hệ xuât phát là 94,44% (dòng TiTan) và 95,05% (dòng MiMas). Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do có sự tác động khác nhau của hormone. Để nâng cao tỷ lệ sống, sức đề kháng, giảm tổn thất do bệnh tật gây ra, bên cạnh việc cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú y và chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp với từng loại vật nuôi, cần phải chú trọng đến công tác lai tạo giống nhằm nâng cao khả năng thích nghi của gia cầm, nhất là gia cầm nhập nội.
Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng * Khái niệm sinh trưởng Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc trưng cơ bản của sự sống. Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Theo Lê Huy Liễu (2004) định nghĩa sinh trưởng là kết quả của sự phân chia tế bào và sự tăng lên về thể tích nhằm duy trì sự sống trong cơ thể sinh vật. Sinh trưởng bao giờ cũng phải có các quá trình: Tế bào phân chia, thể tích tăng lên và hình thành các chất giữa các tế bào mà hai quá trình đầu là quan trọng nhất.
Quá trình này xảy ra từ lúc phôi thai đến khi cơ thể hết lớn (kỳ trưởng thành). Sinh trưởng của động vật luôn gắn liền với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể động vật. Sinh trưởng và phát dục của cơ thể động vật tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.
* Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng Luan van 8 - Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể từng thời kỳ là chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm.