CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề cấu trúc hệ thống KTCP và chất lượng thông tin chi phí đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra những nhận xét và xác định hướng nghiên cứu của đề tài.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.1 Nghiên cứu công bố ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu có liên quan công bố ở nước ngoài được tác giả tiếp cận theo tiêu thức chủ đề nghiên cứu như sau: ❖ Các nghiên cứu có liên quan đến thiết kế hệ thống kế toán chi phí: Chenhall and Morris (1986) nghiên cứu về “The Impact of Structure, Environment, and Interdependence on the Perceived Usefulness of Management Accounting Systems”, xem xét ảnh hưởng của cấu trúc phân cấp, nhận thức về môi trường không chắc chắn, và sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức vào thiết kế hệ thống KTQT. Nghiên cứu xác định mục tiêu chính: thứ nhất, xem xét thiết kế hệ thống KTQT dựa vào tính hữu ích của một số đặc điểm thông tin bao gồm phạm vi, tính kịp thời, mức độ tổng hợp và tích hợp; thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ trực tiếp giữa nhận thức của các nhà quản trị về tính hữu ích của các đặc điểm thông tin KTQT và (1) cơ cấu tổ chức dựa vào mức độ phân cấp, (2) nhận thức của các nhà quản trị về môi trường không chắc chắn và (3) sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức dựa trên mức độ trao đổi giữa các bộ phận trong đơn vị. Ngoài việc xem xét tác động trực tiếp của các biến theo ngữ cảnh đối với việc thiết kế hệ thống KTQT, nghiên cứu đã xác định cách thức các biến độc lập tương tác như thế nào, kiểm tra các tác động gián tiếp đối với nhận thức về môi trường không chắc chắn và sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức thông qua cấu trúc phân cấp.
Các giả thuyết được tạo ra cho cả tác động trực tiếp và gián tiếp của các biến theo ngữ cảnh và được kiểm tra bằng dữ liệu thu thập từ 68 người quản lý trong các công ty sản xuất tại Sydney. Kết quả cho thấy các mối quan hệ: 1) Thông tin được tổng hợp và tích hợp được đánh giá bởi các nhà quản trị phân cấp, đáng chú ý là phạm vi thông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tin rộng và kịp thời không liên quan nhiều đến việc phân cấp; nhận thức về môi trường không chắc chắn có liên quan với phạm vi thông tin rộng và kịp thời; sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức liên quan với phạm vi thông tin rộng, được tổng hợp và tích hợp. 2) Tác động của việc nhận thức về môi trường không chắc chắn và sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt tổ chức một phần là do gián tiếp thông qua sự liên kết với quá trình phân cấp. Tóm lại, nghiên cứu cho thấy nhận thức về môi trường không chắc chắn có ảnh hưởng gián tiếp thông qua phân cấp giúp các nhà thiết kế hệ thống KTQT nỗ lực cải thiện thời gian phản hồi và thu thập thông tin từ nhiều nguồn trong phạm vi rộng.
Nghiên cứu này không hướng đến hệ thống KTCP, tuy nhiên cách tiếp cận thông tin và thang đo các biến được Chenhall và Morris tìm ra ở trên vẫn được sử dụng làm nền tảng cho nhiều nghiên cứu sau tại lĩnh vực KTCP nói riêng. Pizzini (2006) nghiên cứu về “The relation between cost-system design, managers’ evaluations of the relevance and usefulness of cost data, and financial performance: an empirical study of US hospitals” thông qua nghiên cứu thực nghiệm mẫu 277 bệnh viện tại Mỹ, nhằm kiểm định mối quan hệ giữa thiết kế hệ thống chi phí, đánh giá của các nhà quản trị về sự thích hợp và hữu ích của dữ liệu chi phí và hiệu quả tài chính. Bốn thuộc tính quan trọng của thiết kế hệ thống chi phí: mức độ chi tiết của thông tin, khả năng phân loại chi phí theo ứng xử, phân tích các biến động chi phí và tần suất báo cáo chi phí. Đánh giá của nhà quản trị về dữ liệu hệ thống chi phí và hiệu quả tài chính thực tế giúp xác định xem liệu hệ thống chi phí nhiều chức năng, cung cấp dữ liệu chi phí thích hợp hơn có thể sử dụng để đưa ra các quyết định nâng cao hiệu suất hay không.
Sự thích hợp của dữ liệu chi phí được đo bằng cách so sánh đánh giá của các nhà quản trị về nhu cầu thông tin chi phí với thông tin thực sự được cung cấp bởi hệ thống chi phí trong việc thực hiện 10 hoạt động quản lý, bao gồm đánh giá hiệu quả hoạt động, đàm phán hợp đồng, lập ngân sách và định giá. Tính hữu ích của thông tin được đo bằng một câu hỏi yêu cầu người trả lời đánh giá mức độ người dùng dựa vào dữ liệu hệ thống chi phí để đưa ra các quyết định (sử dụng). Bằng chứng thực nghiệm cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thấy hệ thống cung cấp chi tiết và phân loại chi phí tốt hơn, báo cáo thông tin chi phí thường xuyên hơn thì cung cấp dữ liệu chi phí thích hợp và hữu ích hơn sử dụng để đưa ra các quyết định nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, chỉ có khả năng cung cấp chi tiết chi phí là tác động tích cực đến các thước đo về hiệu quả tài chính, bao gồm tỷ suất lợi nhuận cao hơn, tạo ra luồng tiền lớn hơn và có tỷ lệ chi phí quản lý thấp hơn, ngược lại, các bệnh viện có hệ thống phân tích nhiều biến động đã làm giảm lợi nhuận và tăng chi phí hành chính tương đối cao, đây là mối quan hệ nhân quả tác động âm, vì các bệnh viện hoạt động kém có thể phân tích biến động để xác định và khắc phục các vấn đề.
Mức độ thích hợp và hữu ích của dữ liệu hệ thống chi phí là rất quan trọng đối với việc khẳng định rằng, việc thiết kế hệ thống chi phí có thể được sử dụng để nâng cao hiệu quả tài chính. Theo đó, việc kiểm tra đánh gía của các nhà quản trị về hệ thống chi phí tạo cơ sở cho kỳ vọng rằng các hệ thống chi phí có thể cung cấp chi tiết hơn, phân loại chi phí tốt hơn và phân phối thông tin thường xuyên hơn và rộng rãi hơn có thể dẫn đến việc tăng cường hiệu quả tài chính. Pizzini sử dụng lý thuyết bất định làm nền tảng xây dựng các giả thuyết, với các yếu tố khác nhau trong cấu trúc, chiến lược và môi trường của bệnh viện có thể ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống chi phí. Và Pizzini cho rằng, hiệu suất hoạt động trong quá khứ không liên quan đến quyết định thay đổi thiết kế hệ thống chi phí, giả thuyết hiệu quả tài chính mạnh mẽ thúc đẩy đầu tư vào các chức năng hệ thống chi phí thì không được ủng hộ.
Kết quả của Pizzini cung cấp bằng chứng đầu tiên về mối liên hệ giữa chức năng hệ thống chi phí với hiệu quả tài chính thực tế và do đó giúp giải quyết các yêu cầu về nhu cầu đầu tư lớn hơn vào thiết kế hệ thống chi phí bệnh viện. Omiri and Drury (2007) nghiên cứu về “A survey of factors influencing the choice of product costing systems in UK organizations” nhằm kiểm tra mức độ mà các yếu tố khác nhau theo ngữ cảnh (tầm quan trọng của thông tin chi phí, tính đa dạng sản phẩm, cấu trúc chi phí, mức độ cạnh tranh, quy mô tổ chức, chất lượng công nghệ thông tin, mức độ sử dụng các kỹ thuật KTQT sáng tạo, mức độ sử dụng kỹ thuật sản xuất (bao gồm kỹ thuật JIT), ngành kinh doanh) ảnh hưởng đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 việc thiết kế hệ thống chi phí sản phẩm. Một mẫu ngẫu nhiên bao gồm 1000 công ty sản xuất hoặc dịch vụ của Anh đã được chọn từ cơ sở dữ liệu FYS (FIL). Chỉ những doanh nghiệp có doanh thu hàng năm vượt quá 50 triệu bảng được lựa chọn vì tập trung vào các công ty lớn hơn có thể sẽ có chức năng KTQT.
Tổng số 384 bảng câu hỏi phản hồi từ mẫu của 1.000 công ty, trong đó 176 bảng câu hỏi đã hoàn thành có thể sử dụng được và 208 bảng chưa hoàn thành. Bằng chứng thực nghiệm chấp nhận sáu trong số chín giả thuyết đưa ra. Tầm quan trọng của thông tin chi phí và quy mô tổ chức là các nhân số quan trọng, và mức độ cạnh tranh trong ngành tài chính có ý nghĩa. Việc sử dụng các kỹ thuật KTQT sáng tạo trong lĩnh vực dịch vụ chỉ có ý nghĩa cho việc phân biệt giữa doanh nghiệp áp dụng hệ thống chi phí trên cơ sở hoạt động (ABC-Activity Based Cost) và những doanh nghiệp không áp dụng ABC.
Việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cũng đã có một ảnh hưởng tích cực đáng kể đến việc áp dụng ABC. Chất lượng của công nghệ thông tin, sự đa dạng sản phẩm và cấu trúc chi phí không phải là nhân tố đáng kể. Về công nghệ thông tin, chi phí giảm trong những năm gần đây đã dẫn đến sự sẵn có và áp dụng rộng rãi của tất cả các loại hình công ty. Do đó, chất lượng của công nghệ thông tin có thể không còn là rào cản để thực hiện hệ thống chi phí phức tạp hơn.
Sự thiếu tầm quan trọng của đa dạng sản phẩm và cơ cấu chi phí là đáng ngạc nhiên mà theo Omiri và Drury có thể là thang đo quá đơn giản không ảnh hưởng đến mức độ phức tạp của hệ thống chi phí. Pavlatos and Paggios (2009) nghiên cứu về “A survey of factors influencing the cost system design in hotels” xem xét mối quan hệ giữa chức năng hệ thống chi phí và các yếu tố bất định trong ngành khách sạn. Một điều tra thực nghiệm qua các bảng câu hỏi đã được tiến hành trên mẫu 100 doanh nghiệp hàng đầu về khách sạn ở Hy Lạp. Phân tích dữ liệu cho thấy phần lớn các hệ thống chi phí của khách sạn không cung cấp dữ liệu chi phí chất lượng.
Các hệ thống chi phí không phân loại chi phí dựa trên hoạt động của khách sạn, chúng cũng không phân tích biến động chi phí và không cung cấp thông tin chi tiết cho mỗi đối tượng chi phí. Họ cung cấp cho người dùng báo cáo chi phí hàng năm và dữ liệu chi phí của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 họ không được chính xác cao.