CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây thuốc lào 1. Nguồn gốc và phân bố Cây thuốc lào, thuốc lá được phát hiện đầu tiên vào năm 1492 bởi đoàn thám hiểm của Christophe Columbus và thủy thủ đoàn tại Châu Mỹ. Cây thuốc lá được trồng lần đầu tiên ở Bồ Đào Nha và được trồng ở Cu Ba năm 1580 sau đó nhanh chóng mở rộng ra các nước châu Mỹ.
Thuốc lá được đưa vào châu Âu, Á, Phi vào nửa cuối thế kỷ XVI (Bandner et al. Tuy nhiên, lịch sử xuất hiện cây thuốc lá, thuốc lào ở Việt Nam còn có một số tài liệu khác nhau. Cây thuốc lào có tên khoa học là Nicotiana tabacum L (Trần Đăng Kiên, 2011), có nguồn gốc ở Nam và Bắc châu Mỹ, Mexico vào khoảng 10.000 năm trước đây. Sau này thuốc lào được trồng và sử dụng rộng rãi, phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Philipin, Malaysia, các quốc gia châu Phi, các quốc gia theo đạo hồi như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Irắc… (Đào Duy Anh, 2002).
Thuốc lào được trồng ở Việt Nam từ năm Canh Tí, tức niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) đời vua Lê Thần Tông. Theo Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, cây thuốc lào được gọi là “Tương tư thảo”, cây thuốc lào có lẽ được nhập từ Lào (Ai Lao) vào Việt Nam nên mới gọi là thuốc lào (Nguyễn Văn Biếu, 2005). Theo Viện Sử học (1998), trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi năm 1438 đã ghi rằng: “Tại Thuận Hóa, một vùng đất đen, mầu mỡ, hợp với trồng thuốc hút và thứ tiêu hạt to, ruộng thì vào hạng trung bình. Điện Bàn có Trĩ Vàng.
Sa Bôi có Chè Lưỡi Chim Sẻ. Hải Lăng có Thỏ Lông Trắng. Thuốc hút là thứ cây lá cuộn vào giấy rồi châm lửa hút” Một số thông tin khác cho rằng tại Trung Quốc, ngay giáp với phía Bắc nước ta, người ta đã tìm thấy dấu tích thuốc lào trong một số ngôi mộ đã có tuổi cách đây 4 trên 2000 năm. Lịch sử Việt Nam lại có tới trên 1000 năm Bắc thuộc, có thể những giao lưu văn hóa đã đem thuốc lào tới Việt Nam nhưng đáng tiếc là cho đến nay, chưa tìm được các dẫn liệu lịch sử minh chứng cho điều này.
Ngay cả những dẫn liệu về lịch sử thuốc lào tại Trung Quốc cũng chưa được thế giới chấp nhận (Nguyễn Văn Biếu, 2005). Tóm lại, có nhiều thông tin về nguồn gốc thuốc lào trồng ở nước ta, song quan điểm thuốc lào được trồng ở Việt Nam từ năm Canh Tí (1660) đời vua Lê Thần Tông theo Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn được nhiều nhà nghiên cứu trích dẫn và coi là thời điểm bắt đầu trồng cây thuốc lào đầu tiên ở nước ta. Phân loại Cây thuốc lá có tên khoa học là Nicotiana tabacum. Theo Trần Đăng Kiên (2011), thuốc lá thuộc chi Nicotiana, họ cà Solanaceae.
Chi Nicotiana có 3 chi phụ, 14 nhóm và 65 loài. Trong đó 45 loài thuộc bản địa Bắc và Nam Mỹ, 15 loài thuộc bản địa Úc; cụ thể: Chi phụ Rustica: có 3 nhóm, 9 loài. Chi phụ Tabacum: 2 nhóm, 6 loài Chi phụ Petunioides: 9 nhóm, 50 loài Trong số 65 loài trên chỉ có loài N.tabacum thuộc nhóm Genminae được gieo trồng thương mại trên khắp thế giới. Ở nước Nga và một số nước châu Á, loài N.
rustica được trồng chủ yếu sử dụng tiêu dùng tại chỗ. Một số loài hoang dại như: N.sylventris được dùng làm cây cảnh. thuốc lào thuộc chi phụ Tabacum. Theo Nguyễn Trọng Nhưỡng và cộng sự (2007): Có 2 loài N.
rustica có các giống được trồng làm thuốc lào ở nhiều nước nhưng loài N. rustica có lá nhỏ hơn, hoa có màu vàng chưa thấy trồng ở Việt Nam. Thuốc lào có cách sử dụng rất phong phú và sử dụng thuốc lào qua dụng cụ hút có lọc nước như điếu cày, điếu bát cũng rất đa dạng. Giá trị kinh tế của cây thuốc lào Thuốc lào, là sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất.
Thuốc lào Vĩnh Bảo, Tiên Lãng được cả nước biết đến do chất lượng đặc thù nổi tiếng của sản phẩm. Năng suất thuốc lào trung bình đạt 1650 kg/ha (60kg/sào). Với giá thương phẩm hiện nay, thấp nhất 70.000đ/kg, cao nhất là 250.000 đ/kg; với giá trung bình 120.000/kg thì 01ha thuốc lào trồng trong vòng 4 tháng cho thu nhập bình quân 198.000 đồng (tương đương 7,7 triệu đồng/sào Bắc bộ) với lãi thuần bình quân 65 triệu đồng/ha/vụ. Đây là hiệu quả kinh tế rất cao trong sản xuất nông nghiệp hiện nay.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới Thuốc lào là cách gọi truyền thống có từ lâu ở nước ta và đây là cách sử dụng khói thuốc một cách rất riêng biệt: qua điếu cày, điếu bát (và đôi khi qua vấn sâu kèn tự tạo khi không có điếu) hay ăn trực tiếp trong tục ăn trầu. Thuốc lá mới chỉ xuất hiện khoảng 200 năm nay nhờ những tiến bộ về công nghệ cuốn điếu, phối chế và nhờ đó, thói quen hút thuốc lá điếu đã nhanh chóng phổ biến khắp thế giới và giành được một phần người hút thuốc lào trước đây Thói quen hút thuốc lào không phải chỉ có riêng ở Việt Nam mà có ở khá nhiều nước trên thế giới. Theo Vân đài loại ngữ (Trần Văn Giáp, 2006), năm Mậu Dần, đời vua Càn Long (1758) Trung Quốc, sách Bản thảo tòng tân, liệt thuốc hút vào các loại cỏ độc: “tính nó cay, nóng, trị các chứng phong hàn, tê thấp, trệ khí, đọng đờm, sơn lam chướng khí.
Khói thuốc vào mồm không theo thường độ, một lúc nó chạy khắp người, làm cho khắp các cơ thể trong người đều thông khoái, thay được cả rượu, chè, cả đời không chán. Cho nên người ta gọi thuốc hút là Tương tư thảo”. Như vậy, thuốc lào đã được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc vào thế kỷ XVIII. Một số di chứng khảo cổ tại Trung Quốc đã cho thấy từ cách đây 4.000 năm, người ta đã biết sử dụng thuốc lào và một số bức tranh của người Maya cổ cách đây trên 2000 năm cũng đã minh họa.
Ngay hiện nay, do cách sơ chế đơn giản, sản xuất nhỏ theo kiểu tự cung tự cấp nên hầu như không có thống kê riêng cho thuốc lào. 6 Mặt khác, tên gọi thuốc lào hay tên các loại điếu hút lại thường gắn với tên địa phương nên rất khó có thông tin chung (Nguyễn Văn Biếu, 2005). Thuốc lào ngày nay thường được xếp vào nhóm thuốc lá đen phơi nắng cùng nhóm với xì gà và chiếm 1/2 sản lượng thuốc lá toàn thế giới (khoảng 1,4 triệu tấn/năm) và trong số này, chỉ có 20% được trao đổi buôn bán trên thế giới. Thuốc lào được trồng ở rất nhiều nước với đặc trưng sản phẩm là hàm lượng nicotin khá cao (5-8%), hàm lượng đường rất thấp (<3%), hàm lượng protein cao (16-18%) và do vậy, lượng phân bón sử dụng rất cao (cả phân chuồng và phân hóa học), bón nhiều lần và thậm chí bón liên tục đến trước khi thu hoạch (Nguyễn Văn Biếu, 2005).
Như vậy, thuốc lào được trồng và sản phẩm thuốc lào đã được tiêu dùng từ rất lâu ở các châu lục và cách sử dụng cũng như dụng cụ để hút thuốc cũng khác nhau. Các tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu về cây thuốc lào trên thế giới còn rất hạn chế nên công tác nghiên cứu trên cây thuốc lào còn một số khó khăn. Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào tại Việt Nam 1. Tình hình sản xuất thuốc lào tại Việt Nam Ở Việt Nam, thuốc lào được trồng vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ đến Đèo Ngang (tỉnh Quảng Bình) và các dân tộc thiểu số từ miền núi phía bắc đến miền tây Quảng Bình, Nghệ An, nhưng tập trung tại một số tỉnh/thành như: Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá, Bắc Ninh.
Ngoài ra, thuốc lào còn được trồng rải rác trên diện tích nhỏ, không ổn định và mang tính tự cung tự cấp ở nhiều vùng khác. Mục tiêu trồng thuốc lào để hút là chính, ngoài ra còn dùng ăn cùng lá trầu (Đào Duy Anh, 2002). - Diện tích, sản lượng thuốc lào tại Việt Nam Hiện nay, diện tích trồng thuốc lào ở nước ta khoảng 4000 ha; trong đó Hải Phòng là địa phương có diện tích trồng lớn nhất (2500 ha); Thanh Hóa, 610ha; Thái Bình 500ha; Bắc Ninh 300ha và một số diện tích nhỏ lẻ ở các địa phương khác. Năng suất thuốc lào phụ thuộc vào giống, kỹ thuật canh tác, đất trồng của từng địa phương.
Ở các vùng trồng Hải Phòng, năng suất thuốc lào thương phẩm đạt khoảng 1,6-2,0 tấn/ha; trong khi đó thuốc lào ở Quảng Xương – Thanh Hóa chỉ 7 đạt khoảng 1,2-1,5 tấn/ha. và cũng có một vài chân đất ở Hải Phòng, năng suất chỉ đạt khoảng 0,8-1,2 tấn/ha song chất lượng thuốc được đánh giá rất cao. Diện tích thuốc lào tại Việt Nam (ha) TT Địa phương 2006 2007 2008 2009 2010 2011 1 Hải Phòng 2245 2919 2096 2250 2436 2525 2 Thanh Hóa 460 482 452 533 601 610 3 Thái Bình 470 462 485 492 482 495 4 Bắc Ninh 301 290 295 298 302 299 5 Nơi khác 200 250 201 245 210 205 Tổng 3676 4403 3529 3818 4031 4134 Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng (2010, 2011, 2012); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh: Thanh Hoá, Bắc Ninh, Thái Bình (2011). Sản lượng thuốc lào tại Việt Nam (tấn) TT Địa phương 2006 2007 2008 2009 2010 2011 1 Hải Phòng 3.161 2 Thanh Hóa 508 502 539 564 812 800 3 Thái Bình 800 810 830 809 807 802 4 Bắc Ninh 400 410 395 405 415 409 5 Nơi khác 180 160 185 180 180 180 Tổng cộng 5.352 Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng (2010, 2011, 2012); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh: Thanh Hoá, Bắc Ninh, Thái Bình (2011).) Sản lượng thuốc lào toàn quốc hiện nay khoảng 6352 tấn trong đó: Hải Phòng 4161 tấn; Thanh Hóa 800 tấn; Thái Bình 802 tấn; Bắc Ninh 409 tấn.
- Hiệu quả kinh tế Thuốc lào có thời gian sinh trưởng từ 160-180 ngày, thời gian thu hoạch 125- 145 ngày, trong quá trình cây sinh trưởng phát triển, nông dân tốn rất nhiều công 8 chăm sóc và lượng phân bón cho cây cũng cao hơn các cây trồng khác. Sau khi thu hoạch, phải tiến hành sơ chế, thái, phơi. rất công phu mới thành sản phẩm thương phẩm trên thị trường (Dương Đức Tùng và cộng sự, 2008). Tuy nhiên, giá bán của thuốc lào cũng cao hơn các loại cây trồng khác và ổn định.
Hiện nay, bình quân giá thuốc lào có chất lượng trung bình là 120.000đ/kg; thuốc lào ngon lên tới 200.