CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO, PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO DO THÍCH MINH CHIẾU SƯU TẦM. Khái lược về Phật giáo Những tiếng chuông, hình ảnh của những ngôi chùa, những pho tượng, những tín đồ Phật giáo đã trở nên quen thuộc, gần gũi trên toàn thế giới. Phật giáo đã tạo nên sức ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thể dân chúng các nước. Phật giáo nhanh chóng trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới.
Phật giáo ra đời khoảng thế kỷ thứ VI, trước Công nguyên (TCN) ở Ấn Độ. Thế kỷ III, II TCN Phật giáo được coi là quốc giáo ở Ấn Độ, sau đó được truyền bá, lan tỏa sang các nước lân cận và khu vực. Ngày nay Phật giáo đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới. Phật giáo ra đời trong hoàn cảnh kinh tế xã hội Ấn Độ có sự chuyển biến sâu sắc.
Chế độ đẳng cấp khắc nghiệt của Ấn độ cổ đại ảnh hưởng tới cuộc sống của người bình dân Ấn Độ, khiến những con người ấy bất lực, bế tắc trong cuộc sống. Sự phân hóa đẳng cấp tạo nên mâu thuẫn xã hội gay gắt và là nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc đấu tranh chống lại sự phân hóa đó, chống lại với đẳng cấp cao nhất. Tình trạng đó tạo nên cơ sở cho sự ra đời của Phật giáo. Phật giáo ra đời nhằm đem lại sự bình đẳng cho con người, sự bình đẳng về tinh thần.
Khai sinh ra Phật giáo tương truyền do vị Thái Tử Tất Đạt Đa (624 – 544TCN), con vua Tịnh Phạm, trị vì nước Ca tỳ la vệ (Nê Pan ngày nay). Tất Đạt Đa - một vị hoàng tử sinh ra kỳ lạ, lớn lên tuấn tú, là kỳ vọng lớn của một đất nước. Ông sống trong cuộc sống giàu sang nơi cung vàng điện ngọc nên không biết những nỗi khổ cực, bất hạnh ngoài xã hội. Sau bốn lần trực tiếp ra ngoài thành, tận mắt chứng kiến nỗi khổ của những người nô lệ, sự bất lực của con người trước vòng trầm luân của sinh lão bệnh tử nên ông đã từ bỏ ngai vàng, cuộc sống giàu sang quyền quý, bỏ vợ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bỏ con lại để đi tìm đạo lý cứu đời, độ người.
Lúc đầu ông đi theo con người ẩn tu, ngồi thiền tu khổ hạnh, mặc vải thô hoặc khoác da hươu, tiết giảm ăn uống, không tắm giặt. Sau nhiều năm tu luyện, Thái tử chưa thu được kết quả nào, lối tu đó không thể giải thoát con người khỏi nỗi đau sinh, lão, bệnh, tử. Cuối cùng, Người nghiệm ra rằng cần có một thân thể khỏe mạnh mới có thể tư duy để tìm ra chân lý nên ăn uống bình thường, Người đến thiền dưới gốc cây Tất – Bà la. Ông đã kiên trì theo con đường “trung đạo” ấy để có thể dẫn tới sự giải thoát.
Sau 49 ngày đêm, Tất – đạt – đa đã hiểu ra được quy luật cuộc đời, nguyên nhân của nỗi đau khổ của chúng sinh và phương cách tiêu diệt nỗi khổ đau đó. Từ đó, ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni – người giác ngộ chân lý đầu tiên. Đức Phật bắt đầu sự nghiệp hoằng bá của mình, thu nạp đệ từ, thành lập các tăng đoàn Phật giáo, truyền đạo khắp lưu vực Sông Găng ở Bắc và Trung Ấn trong suốt 40 năm cho tới ngày về cõi Niết Bàn – năm 80 tuổi. Sau khi, Phật giáo ra đời ở Ấn Độ và đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động.
Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Phật giáo từ chỗ một trào lưu tư tưởng bị coi là tà giáo đã phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành tôn giáo lớn, có tính chất quốc tế và được truyền bá rộng rãi. Trong quá trình phát triển, Phật giáo phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau do sự bất đồng quan điểm giáo pháp và giới luật giữa các tăng đoàn Phật giáo; sự khác nhau về triết học và giáo lý trong nội bộ Phật giáo; sự tác động của các trường phái triết học khác đối với Phật giáo; sự thay đổi của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời. Tất cả nguyên nhân chủ quan và khách quan trên dẫn tới sự phân phái của Phật giáo, nổi lên là hai tông phái chính: Thứ nhất là phái Thượng tọa bộ (Tiểu thừa) bao gồm các vị trưởng lão chủ trương bám sát kinh điển, giữ nghiêm báo luật, phái này chỉ thờ Phật Thích cao, chủ trương Phật tử phải tự giác ngộ cho bản thân mình và chỉ tu tới bậc La Hán. Phái thứ hai là Đại chúng bộ – Đại Thừa chủ trương không cố chấp theo kinh điển, khoan dung trong thực hiện giáo luật.
Phái này chủ trương thờ nhiều Phật, thu nạp tất cả những người muốn quy y, tự giải thoát cho mình và giúp giải thoát cho nhiều người có thể tu thành Phật. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo lý mà Phật Thích Ca và các đệ tử của Ngài truyền bá đến quần chúng nhân dân có nội dung đề cập đến các vấn đề về “Tứ diệu đế” và “Niết Bàn”. Đó là quá trình xoay quanh nguồn gốc của nỗi khổ, sự diệt khổ dẫn đến cõi Niết Bàn. “Tứ diệu đế” cắt nghĩa bản chất và nguyên nhân gây ra đau khổ và con đường khắc phục sự đau khổ, bao gồm tứ đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
Khổ đế: bản chất của nhân sinh là khổ, nỗi khổ do con người tự gây nên, gồm “bát khổ” sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ, ái thụ biệt khổ, oán tăng hội khổ, ngũ uẩn khổ. Tập đế giải thích nguyên nhân đau khổ do vô minh, ái dục của con người vì thế con người sống suy nghĩ và hành động không đứng đắn nên thấy được thực tướng của vạn vật là giả, là huyễn hoặc. Diệu đế là kết quả của hạnh phúc, giải thoát và an lạc. Đạo đế là con người tu dưỡng để trở thành đạo, gồm tám con đường lớn gọi là “Bát chánh đạo”.
Giáo lý nhà Phật được tập trung trong cả Tam tạng gồm có Kinh tạng (ghi lại những lời thuyết pháp của Phật và một số đệ tử), Luận tạng (những lời bàn luận về kinh sách nhà Phật) và Luật tạng (lời Phật dạy về giới luật và nghi thức sinh hoạt của chúng tăng). Ngoài ra Phật giáo luôn hướng tới cõi “Niết bàn”, vậy “Niết bàn” theo quan điểm của Phật giáo là trạng thái vắng lặng, tịch diệt, nếu con người đạt tới thì sẽ sống an nhiên tự tại, vô ngã vị tha, đây là trạng thái lý tưởng. Niết bàn có thể được hiểu là một thế giới sau khi con người chết, nếu tu hành đắc đạo linh hồn sẽ được siêu thoát về thế giới lý tưởng đó. Niết bàn cũng có thể tồn tại ngay trong thế giới trần tục, con người có thể đạt tới khi loại bỏ được “tham, sân, si” thoát khỏi vô minh, sống ung dung tự tại, vô ngã vị tha.
Với tư tưởng từ bi hỉ xả, vô ngã vị tha, giáo lý hướng thiện, giàu tính nhân bản, Phật giáo đã nhanh chóng lan tỏa ra nhiều nước trên phạm vi thế giới. Đạo Phật có sự ảnh hưởng rất lớn trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Đông Nam Á đạo Phật có vai trò lớn trong tôn giáo, tín ngưỡng và văn hoá. Một trong số nước chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo là Việt Nam. Phật giáo tại Việt Nam 1.
Phật giáo trong quá trình du nhập vào Việt Nam Phật giáo và Việt Nam một cách tự hiên, đi vào đời sống con người Việt một cách hòa bình, tự nguyện. Đây là sản phẩm của các thương gia Ấn Độ mang tới chứ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không phải từ những nhà truyền giáo như Thiên Chúa Giáo. Theo Nguyễn Lang thì những thương gia đó “không phải là những nhà truyền giáo, và mục đích của họ khi đến xứ ta là để buôn bán chứ không phải là để truyền đạo. Trong thời gian lưu lại ở giao Chỉ, họ thờ Phật, đốt trầm, đọc kinh và cúng dường những pháp Phật nho nhỏ mà họ mang theo.
Người Giao chỉ ta đã áp dụng những điều hay về canh nông và về y thuật đó có những người Giao Chỉ theo đạo Phật thì đạo Phật đây cũng mới chỉ là những sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ cho người ốm đau đói khổ mà thôi, chứ chưa có sự học hỏi kinh điển và chế độ tăng sĩ” [27, tr. Thời điểm Phật giáo du nhập vào nước ta không được xác định chính xác cụ thể, các nhà nghiên cứu đều thống nhất là khoảng đầu Công Nguyên. Trong Thiền Uyển Tập Anh, tác giả có ghi chép câu chuyện thiền sư Trí Không (Thông Biện quốc sư) trả lời câu hỏi của Phù Thánh Cảm Linh Nhân hoàng thái hậu (Nguyên phi Ỷ Lan) về lịch sử truyền thừa Phật giáo ở Việt Nam. Trong câu trả lời của mình, thiền sư Trí Không có dẫn lời của pháp sư Đàm Thiên ở Trung Quốc trả lời Tùy Văn Đế về việc nhà vua muốn làm chùa tháp ở Giao Châu và đưa danh tăng sang đây hoằng hóa Phật pháp rằng: “Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc.
Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới mười lăm quyển kinh rồi” [39; tr. Điều đó phần nào chứng tỏ rằng Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng đầu Công Nguyên. Quan điểm của dã sử cho rằng Phật giáo được truyền từ Ấn Độ vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ III TCN, hay cuối thời đại Hùng Vương (2879 – 258TCN), dựa trên sự kiện lịch sử trong truyện “Chử đồng tử” – trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp chép lại: “.Tiên Dung bảo Chử Đồng Tử rằng” - Vợ chồng ta do trời định khiến, ăn mặc là của trời cho, bây giờ nên lấy một thỏi vàng, cùng với người nhà buôn đi ra biển mà mua hàng đen về làm kế sinh nhai. Đồng Tử bèn cùng đi với nhà bán buôn; ngoài biển có một hòn núi tên là Quỳnh Viên sơn; trên núi có một chiếc am nhỏ (chùa nhỏ), người đi buôn ghé thuyền ở đấy mà lấy nước ngọt.
Đồng Tử lên chơi trên am, có một Tăng Sĩ tên là Phật Quang truyền pháp cho Đồng Tử. Đồng Tử mới lưu lại am nghe thuyết pháp, trao vàng cho 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người đi buôn mua hàng, dặn lúc nào trở về, thì nghé lại am để chở Đồng Tử cùng về. Nhà sư mới tặng cho Đồng Tử một cái gậy và một cái nón, bảo rằng: Linh thông ở tại những vật này đó. - Đồng Tử trở về, đem chuyện đạo Phật nói với Tiên Dung.