Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của nghiên cứu sinh Phạm Thị Xuân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hỏa Diệu Thúy tại Trường Đại học Hồng Đức, tập trung nghiên cứu đề tài: "Yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải từ góc nhìn so sánh".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo quan điểm của tác giả luận án, một tác phẩm văn học có giá trị lâu bền phải sống bằng tư tưởng; tư tưởng mang lại khoái cảm trí tuệ và sức tác động sâu rộng cho tác phẩm. Yếu tố triết luận đóng vai trò nâng tầm tư tưởng, đưa tác phẩm chạm tới những vấn đề cốt lõi, quy luật nhân sinh và tạo tiền đề cho các cuộc đối thoại, trao đổi học thuật. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải là hai gương mặt tiêu biểu thuộc thế hệ nhà văn - chiến sĩ, cùng sinh năm 1930, cùng trưởng thành từ Tạp chí Văn nghệ Quân đội và cùng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nam Cao. Mặc dù sở hữu hai cá tính sáng tạo khác biệt, cả hai tác giả đều bộc lộ thiên hướng triết luận đậm nét trong tư duy và bút pháp nghệ thuật.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trước thời điểm thực hiện luận án, các bài viết và công trình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải chủ yếu khảo sát độc lập từng tác giả hoặc chỉ dừng lại ở việc tiếp cận một vài khía cạnh, tác phẩm cụ thể. Chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về yếu tố triết luận trong sáng tác của cả hai nhà văn dưới góc nhìn so sánh đối chiếu nhằm làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt trong phong cách nghệ thuật của mỗi người.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là thông qua việc phân tích biểu hiện của yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải, luận án xác định, phân tích và lý giải những điểm tương đồng cùng những nét khác biệt trong phong cách triết luận của hai cây bút, từ đó góp phần khẳng định vị trí và đóng góp nghệ thuật của hai tác giả đối với văn học Việt Nam hiện đại.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Nhiệm vụ 1: Trên cơ sở thống kê, phân loại các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, luận án xác lập khái niệm, xác định vị trí của yếu tố triết luận trong văn chương, cũng như mối liên hệ giữa yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải với thực tiễn sáng tạo.
  2. Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu, khảo sát và phân tích cụ thể các biểu hiện của yếu tố triết luận trong sáng tác của từng tác giả: Nguyễn Minh Châu (Chương 2) và Nguyễn Khải (Chương 3).
  3. Nhiệm vụ 3: Nghiên cứu so sánh, chỉ ra sự giống nhau và khác nhau trong tư duy và bút pháp triết luận của hai tác giả thông qua việc phân tích các biểu hiện ở cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm (Chương 4), qua đó làm rõ cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải từ góc nhìn so sánh.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát: Khảo sát toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải, trong đó tập trung chủ yếu vào hai thể loại nòng cốt là truyện ngắn và tiểu thuyết.
  • Phạm vi thời gian: Luận án bao quát cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau năm 1975, tuy nhiên dành sự ưu tiên cho giai đoạn sau năm 1975. Lý do được tác giả luận giải là sau năm 1975, điều kiện lịch sử xã hội và môi trường sáng tạo trở nên dân chủ, thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho tư duy triết luận của hai nhà văn bộc lộ một cách toàn diện và sâu sắc nhất.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại lịch sử nghiên cứu thành các nhóm công trình cụ thể:

Các công trình sưu tầm, tuyển chọn và kỷ yếu hội thảo

Tác giả điểm lại các công trình tuyển tập phê bình lớn về Nguyễn Minh Châu, bao gồm: Nguyễn Minh Châu con người và tác phẩm (1991) do Tôn Phương Lan và Lại Nguyên Ân sưu tầm, tuyển chọn; Nguyễn Minh Châu, tài năng và sáng tạo nghệ thuật (2001) do Mai Hương biên soạn; Nguyễn Minh Châu, nhà văn chiến sỹ (2001) của Nguyễn Văn Kha; Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, tác phẩm và dư luận (2002) do Tuấn Thành - Anh Vũ tuyển chọn; Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm (2007) do Nguyễn Trọng Hoàn giới thiệu; Nguyễn Minh Châu tác phẩm và lời bình (2013) do Thùy Trang tuyển chọn; cùng Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 30 năm ngày mất Nguyễn Minh Châu do Viện Văn học tổ chức năm 2019.

Các nhận định phê bình về từng tác giả

  • Về Nguyễn Minh Châu: Phong Lê nhận xét về năng lực khái quát hóa qua tiểu thuyết Cửa sông (1966) và tính đa giọng điệu sau năm 1975; Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá chỉ ra kiểu nhân vật giàu suy tưởng, mượn cảnh tả tình; Song Thành phân tích khả năng gợi mở vấn đề trong Dấu chân người lính; Nhị Ca ghi nhận triết lý kín đáo gắn với hình ảnh; Tô Hoài đánh giá khả năng nâng tầm triết lý từ những điều bình thường; Lê Lựu, Xuân Trường, Nguyên Ngọc, Phạm Vĩnh Cư, Đỗ Đức Hiểu (với phân tích về Phiên chợ Giát), Hoàng Ngọc Hiến (nhận định về quá trình tự nhận thức trong Bức tranh và tính vấn đề trong Phiên chợ Giát), và Lã Nguyên (khẳng định chất thơ, chiều sâu triết học nhân bản và đặc điểm mạch suy tưởng tràn vào mạch trần thuật).
  • Về Nguyễn Khải: Vương Trí Nhàn ghi nhận năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sự khôn ngoan và khả năng bao quát các vấn đề cao sâu; Phan Cự Đệ khẳng định ngòi bút trí tuệ luôn làm nổi bật các vấn đề khái quát có ý nghĩa triết học và đạo đức nhân sinh qua các sự kiện thời sự nóng hổi; Trần Đình Sử chỉ ra cảm hứng nghiên cứu và phân tích tâm lý; Đoàn Trọng Huy nhấn mạnh tính luận đề, chính luận và sức thuyết phục của lý lẽ; Nguyễn Đăng Mạnh lý giải trải nghiệm tuổi thơ tạo nên giọng văn già dặn, sắc lạnh.

Các công trình luận án chuyên khảo và hướng tiếp cận so sánh

  • Các luận án nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Minh Châu: Trịnh Thu Tuyết (2001, nghiên cứu sự vận động của văn xuôi đương đại), Tôn Phương Lan (2003, nghiên cứu toàn diện phong cách nghệ thuật, đề cập đến nhân vật tư tưởng và tình huống tự nhận thức), Nguyễn Văn Long và Trịnh Thu Tuyết (2007), Phạm Thị Thanh Nga (2012, nghiên cứu lời văn nghệ thuật và giọng điệu triết lý).
  • Các công trình có yếu tố so sánh liên quan: Cao Xuân Hải so sánh Nguyễn Minh Châu với Chu Lai và Lê Lựu về hành động trần thuật; Nguyễn Thị Bích so sánh nghệ thuật tự sự sau 1975 qua Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng; Nguyễn Thị Huệ khảo sát dấu hiệu đổi mới qua bốn tác giả; Đỗ Thị Hiên nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện ở Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu nhưng triển khai theo hướng khảo sát độc lập.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án chỉ ra rằng phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát, khảo sát đơn lẻ ở từng tác phẩm hoặc khảo sát độc lập từng tác giả mà chưa có công trình nào đối sánh trực diện, có hệ thống về yếu tố triết luận giữa Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải để làm nổi bật sự tương đồng và khác biệt trong tư duy và bút pháp nghệ thuật của hai cây bút tiêu biểu này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và cơ sở lý thuyết

  • Khái niệm "triết luận": Luận án tiếp cận từ góc độ chiết tự ngôn ngữ: theo Từ điển Hán Việt (Thiều Chửu), "triết" là sáng suốt, khôn ngoan, "luận" là bàn bạc, xem xét phải trái; theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2007), "triết" là thông minh, hiểu rõ sự lý, "luận" là bàn có phân tích lý lẽ. Luận án xác lập khái niệm "triết luận" tích hợp cả hai tầng nghĩa: vừa chỉ phương thức diễn đạt có tính tranh luận, trí tuệ; vừa chỉ nội dung tư tưởng có chiều sâu thông thái, mang tính quy luật.
  • Phân biệt với "triết học" và "triết lý": Triết học (Philosophy) là hệ thống tri thức lý luận chung nhất về thế giới và con người; triết lý (theo định nghĩa của Phạm Xuân Nam) là tư tưởng có tính triết học được đúc kết từ thực tiễn để định hướng hành động. Trong tiếng Việt, "triết lý" nghiêng về suy tưởng, chiêm nghiệm khái quát, còn "triết luận" nhấn mạnh cả tính chất luận giải, bàn bạc, đối thoại trí tuệ. Luận án lựa chọn thuật ngữ "triết luận" để phù hợp với bản chất bút pháp của hai tác giả.
  • Mối quan hệ giữa văn học và triết luận: Luận án điểm lại tiến trình lịch sử từ thời kỳ "văn - sử - triết bất phân" (cổ đại Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc, văn học trung đại Việt Nam với quan niệm "văn dĩ tải đạo", "thi ngôn chí") đến văn học hiện đại. Luận án khảo sát sự hiện diện của yếu tố triết luận qua thần thoại, sử thi (Iliad, Odyssey, Mahabharata, Ramayana), kịch nghệ phương Tây (Shakespeare, Goethe), văn học thế kỷ 19-20 (Victor Hugo, Albert Camus, Franz Kafka, Ernest Hemingway), văn học dân gian Việt Nam (tục ngữ, ca dao, Mo Mường, truyện cổ tích Thạch Sanh, Cây khế, Từ Thức gặp tiên), văn học trung đại (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du) và văn học Việt Nam hiện đại trước và sau 1975.

Cơ sở hình thành yếu tố triết luận ở hai tác giả

  • Cơ sở khách quan:
    • Giai đoạn 1945 - 1975: Yêu cầu của hai cuộc kháng chiến vệ quốc và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi văn học phải trở thành vũ khí tư tưởng phục vụ công - nông - binh, xây dựng con người mới. Các vấn đề mang tính "đại tự sự" về dân tộc, độc lập, nghĩa vụ công dân định hình tính chính luận và cảm hứng triết luận về sự hy sinh, cống hiến.
    • Giai đoạn sau 1975: Đất nước hòa bình, bước vào thời kỳ Đổi mới và chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường. Hiện thực đời sống phức tạp, con người đa diện đời thường thay thế cho cái nhìn đơn trị, đòi hỏi văn học phải "nhận thức lại", khơi gợi nhu cầu tranh luận, đối thoại và giải mã bản tính con người.
  • Cơ sở chủ quan:
    • Nguyễn Minh Châu: Xuất thân từ làng Thơi (xứ Nghệ) nơi đầu sóng ngọn gió; tính cách điềm đạm, trầm lặng, giàu nội tâm, luôn duy trì khả năng hoài nghi và trăn trở về "văn đức"; quan niệm "tác phẩm sống bằng tư tưởng", "học làm văn chương cũng như học làm người" thể hiện trong tập tiểu luận Trang giấy trước đèn.
    • Nguyễn Khải: Trải qua tuổi thơ éo le, nhẫn nhục tại Nam Định rèn luyện nên tính cách nhạy cảm, sắc sảo, khôn ngoan, am hiểu sâu sắc tâm lý con người; ý thức rõ về năng lực nghề nghiệp và kỷ luật tuyên truyền; quan niệm "nghề văn cũng lắm công phu", coi sáng tác là sự giải mã lòng người.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu văn học định tính:

  • Phương pháp tiểu sử học: Vận dụng cùng cách tiếp cận lịch sử để lý giải tác động từ bối cảnh xuất thân, tính cách và trải nghiệm sống đến phong cách của tác giả.
  • Phương pháp phân tích văn học: Khảo sát, phân tích chi tiết văn bản tác phẩm, kết cấu, hệ thống hình tượng và lời văn nghệ thuật.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thực hiện cả so sánh đồng đại (cùng giai đoạn sáng tác) và so sánh lịch đại (trước và sau năm 1975) để xác định điểm tương đồng và dị biệt.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê - phân loại tư liệu, phối hợp phương pháp tự sự học và tiếp cận liên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chương 1 đóng vai trò xây dựng nền tảng lý thuyết và cơ sở thực tiễn cho toàn bộ công trình:

  • Làm rõ nội hàm khái niệm "triết luận", phân định mối quan hệ tương hỗ giữa tư duy hình tượng nghệ thuật của văn học và tư duy trừu tượng duy lý của triết học qua các thời kỳ lịch sử.
  • Khảo lược biểu hiện của yếu tố triết luận trong văn học thế giới (phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc) và văn học Việt Nam (dân gian, trung đại, hiện đại).
  • Tổng kết lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải, chỉ rõ các thành tựu đã đạt được cùng khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết.
  • Phân tích hai nhóm cơ sở hình thành yếu tố triết luận: cơ sở khách quan (bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam thời chiến 1945-1975 và thời hậu chiến - Đổi mới sau 1975) và cơ sở chủ quan (năng khiếu, tính cách cá nhân, trải nghiệm sống và quan niệm nghệ thuật của hai nhà văn).

Chương 2: Biểu hiện của yếu tố triết luận trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu

Chương này tập trung phân tích các biểu hiện cụ thể của phẩm chất triết luận trong hệ thống sáng tác của Nguyễn Minh Châu:

  • Quan niệm nghệ thuật: Tác giả quán triệt nguyên tắc "tác phẩm văn học sống bằng tư tưởng", gắn sáng tạo nghệ thuật với trách nhiệm thức tỉnh xã hội và bảo vệ các giá trị nhân bản.
  • Đề tài và chủ đề: Hướng tới những vấn đề có tính phổ quát về số phận con người, bản chất đời sống; cấu trúc mạch truyện mang tính "nhiều lớp", vượt qua khuôn khổ phản ánh sự kiện bề mặt để đi sâu vào tầng chìm của ý nghĩa nhân sinh.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Hệ thống nhân vật và hình tượng mang đậm tính biểu tượng (như các nhân vật tự nhận thức, biểu tượng cho cái Đẹp, Đạo đức và sự chiêm nghiệm nỗi đau nhân thế).
  • Phương thức trần thuật: Điểm nhìn trần thuật được dịch chuyển từ bên trong tâm lý nhân vật, kiến tạo nên giọng điệu suy tư, tự vấn và đối thoại nội tâm sâu lắng.

Chương 3: Biểu hiện của yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Khải

Chương 3 khảo sát và luận giải phong cách triết luận đặc thù trong tác phẩm của Nguyễn Khải:

  • Quan niệm nghệ thuật: Xem "văn chương là khoa học thể hiện lòng người", đề cao năng lực nghiên cứu xã hội và giải phẫu tâm lý.
  • Đề tài và chủ đề: Luôn bám sát tính thời sự, các sự kiện chính trị - xã hội nóng hổi với khả năng dự báo và đúc kết những quy luật xã hội.
  • Cấu trúc mạch truyện: Mạch truyện giàu tính chính luận, đậm đặc thông tin thời cuộc; kết cấu tổ chức theo logic của sự lập luận, tranh biện xã hội.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc họa mẫu nhân vật bản lĩnh, tỉnh táo, sắc sảo, sở hữu cái tôi khôn ngoan và khả năng lý giải hoàn cảnh linh hoạt.
  • Phương thức trần thuật: Giọng trần thuật mang tính tranh luận, đối thoại công khai; ngôn ngữ trần thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc kể - tả với nhận xét, bình luận trực tiếp; thường xuyên tổ chức những màn đối thoại, tranh luận nảy lửa giữa các nhân vật để làm sáng tỏ chủ đề.

Chương 4: Những gặp gỡ và khác biệt trong bút pháp triết luận của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải

Chương cuối cùng tiến hành so sánh đối chiếu toàn diện bút pháp triết luận của hai tác giả trên cả hai phương diện tương đồng và dị biệt:

Tiêu chí so sánh Nguyễn Minh Châu Nguyễn Khải
Điểm gặp gỡ về quan điểm Đề cao phẩm chất tư tưởng của văn chương; coi trọng thiên chức nhà văn như một nhà tư tưởng hướng đến con người. Đề cao phẩm chất tư tưởng của văn chương; coi trọng thiên chức nhà văn như một nhà tư tưởng hướng đến con người.
Đề tài và chủ đề Đề tài mang tính khái quát cao, chủ đề bộc lộ rõ tính "luận đề" về nhân sinh và đạo đức. Đề tài bám sát đời sống chính trị - xã hội, chủ đề bộc lộ rõ tính "luận đề" và tính chính luận.
Hệ thống nhân vật Nhân vật giàu tính biểu tượng: biểu tượng cho cái Đẹp, Đạo đức, Nhân cách; chạm tới tầm cổ mẫu (archetype). Nhân vật giàu tính biểu tượng: biểu tượng cho các ý tưởng, đường lối, mục tiêu chính trị - xã hội.
Đặc điểm trần thuật chung Trần thuật có sự đan xen giữa kể - tả và suy ngẫm, bình luận. Trần thuật có sự đan xen giữa kể - tả và nhận xét, bình luận.
Khác biệt về tiếp cận hiện thực Tiếp cận hiện thực qua lăng kính đời tư - thế sự, khám phá chiều sâu tâm linh và những xung đột bên trong bản tính con người. Tiếp cận hiện thực qua lăng kính thời sự - chính trị, khám phá các quy luật xã hội và sự vận động của thời cuộc.
Khác biệt về khắc họa nhân vật Có thế mạnh nổi bật trong khắc họa "con người cá nhân - đời tư", con người với những trăn trở, tự nhận thức. Có thế mạnh nổi bật trong khắc họa "con người xã hội", con người thế sự khôn ngoan, sắc sảo và giàu trải nghiệm.
Khác biệt về giọng điệu & ngôn từ Ngôn từ xưng - gọi mang tính chuẩn mực; giọng điệu trầm lắng, suy tư, thiên về đối thoại nội tâm. Ngôn từ xưng - gọi thiên về suồng sã, suồng sã hóa giao tiếp; giọng điệu sắc sảo, tranh luận, đối thoại trực diện.
Khác biệt về kỹ thuật trần thuật Phương thức trần thuật thiên về kể kết hợp với tả chi tiết; câu văn uyển chuyển, mềm mại, chỉn chu về ngữ pháp. Phương thức trần thuật thiên về kể kết hợp với bình luận, bàn luận; câu văn ngắn, thường sử dụng câu rút gọn, dồn nén thông tin.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần xác lập và làm rõ hệ thống khái niệm liên quan đến yếu tố "triết luận" trong văn xuôi nghệ thuật, phân định ranh giới và mối liên hệ giữa "triết luận" với "triết lý" và "triết học" trong nghiên cứu văn học. Đồng thời, công trình cung cấp khung thao tác phân tích yếu tố triết luận từ các bình diện: quan niệm nghệ thuật, đề tài - chủ đề, cấu trúc mạch truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và giọng điệu trần thuật.
  • Về mặt thực tiễn: Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải dưới góc nhìn so sánh. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những nét tương đồng và dị biệt trong tư duy nghệ thuật, từ đó xác định rõ cá tính sáng tạo độc đáo cùng những đóng góp quan trọng của hai tác giả đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thế kỷ 20.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất vận dụng kết quả và phương pháp so sánh của luận án vào việc nghiên cứu phong cách học tác giả văn học, đặc biệt là nhóm tác giả văn xuôi thời kỳ chiến tranh và Đổi mới.
  • Khuyến nghị sử dụng tư liệu và các kết luận khoa học của đề tài phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình chuyên đề về tác gia Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải tại các khoa Ngữ văn, Khoa học Xã hội thuộc các trường đại học và viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát chủ yếu ở hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, chưa thể bao quát toàn diện các thể loại khác như ký, phóng sự, kịch bản văn học hay các bài báo phê bình của hai tác giả. Ngoài ra, việc phân tích ngữ liệu tập trung trọng tâm vào giai đoạn sau năm 1975 nên diện mạo triết luận giai đoạn trước 1975 chủ yếu được dùng làm cơ sở đối chiếu lịch đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát yếu tố triết luận trên toàn bộ các thể loại phi hư cấu (ký, nhật ký, hồi ký, tiểu luận) của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải; hoặc mở rộng quy mô so sánh đối sánh yếu tố triết luận giữa hai tác giả với các cây bút cùng thế hệ trong khu vực và văn xuôi đổi mới đương đại (như Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Cung cấp phương pháp tiếp cận so sánh tác gia văn học và cách thức triển khai đề tài phân tích bút pháp nghệ thuật.
  • Giảng viên đại học, cao đẳng: Phục vụ trực tiếp việc giảng dạy học phần Văn học Việt Nam hiện đại, chuyên đề tác gia Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống tổng quan tài liệu phong phú tại Chương 1 và cấu trúc phân tích so sánh chi tiết giữa hai phong cách triết luận (con người đời tư đối sánh với con người xã hội; giọng điệu suy tư chuẩn mực đối sánh với giọng điệu tranh luận suồng sã) tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa yếu tố "triết luận" như thế nào và có điểm gì khác với "triết lý"?

Luận án chiết tự "triết luận" gồm "triết" (sáng suốt, thông thái) và "luận" (bàn bạc, xem xét, phân tích lý lẽ). Luận án xác định "triết luận" vừa chỉ phương thức diễn đạt có tính tranh luận, thông thái; vừa chỉ nội dung vấn đề có chiều sâu trí tuệ. Khác với "triết lý" vốn thiên về sắc thái suy tưởng, chiêm nghiệm khái quát, "triết luận" nhấn mạnh cả tính chất luận giải, trao đổi, bàn bạc và đối thoại.

2. Tại sao luận án lại chọn đặt Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải trong mối tương quan so sánh?

Hai tác giả cùng sinh năm 1930, cùng thuộc thế hệ nhà văn - chiến sĩ tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, cùng coi Nam Cao là bậc thầy và đều coi trọng phẩm chất tư tưởng trong văn chương. Việc đặt hai cá tính sáng tạo này cạnh nhau dưới góc nhìn so sánh là phương thức hữu hiệu để làm nổi bật những nét gặp gỡ về ý thức nghệ thuật và những khác biệt đặc trưng trong bút pháp triết luận của từng người.

3. Bối cảnh lịch sử - xã hội tác động như thế nào đến yếu tố triết luận của hai nhà văn?

Trước năm 1975, hoàn cảnh chiến tranh và phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa định hình chất triết luận mang đậm tính chính luận, hướng về các chủ đề đại tự sự (dân tộc, lý tưởng, sự hy sinh). Sau năm 1975, bối cảnh hòa bình, Đổi mới và kinh tế thị trường chuyển hướng triết luận sang tính chất "nhận thức lại", đối thoại về con người đa diện đời thường và các quy luật nhân sinh phức tạp.

4. Điểm khác biệt căn bản trong nghệ thuật xây dựng nhân vật và giọng điệu trần thuật giữa hai tác giả là gì?

  • Về nhân vật: Nguyễn Khải có thế mạnh khắc họa "con người xã hội" bản lĩnh, khôn ngoan, tỉnh táo; Nguyễn Minh Châu có thế mạnh khắc họa "con người cá nhân - đời tư" giàu suy tư, trăn trở và tự nhận thức.
  • Về giọng điệu trần thuật: Nguyễn Khải sử dụng ngôn từ xưng gọi suồng sã, câu văn ngắn, cấu trúc trần thuật thiên về kể kết hợp bình luận tranh biện; Nguyễn Minh Châu sử dụng ngôn từ chuẩn mực, câu văn uyển chuyển ngữ pháp, trần thuật thiên về kể kết hợp tả và suy tư nội tâm.

5. Luận án ưu tiên khảo sát giai đoạn sáng tác nào và vì sao?

Luận án ưu tiên khảo sát giai đoạn sáng tác sau năm 1975. Tác giả lý giải rằng dù phẩm chất triết luận đã hiện diện xuyên suốt từ trước, nhưng chỉ sau năm 1975, khi hoàn cảnh xã hội và không khí sáng tác trở nên dân chủ, thông thoáng hơn, tư duy triết luận của hai nhà văn mới bộc lộ đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Xuân là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống về yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích văn học và tiếp cận so sánh đối chiếu, tác giả đã làm sáng tỏ những điểm tương đồng về quan điểm tư tưởng cũng như những nét dị biệt sâu sắc trong bút pháp tiếp cận hiện thực, xây dựng nhân vật và tổ chức giọng điệu trần thuật của hai tác giả. Công trình không chỉ khỏa lấp khoảng trống học thuật về tương quan so sánh giữa hai cây bút lớn mà còn đóng góp nguồn tư liệu và khung phân tích có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.