Chương 1: Giới thiệu Xác định vấn đề nghiên cứu; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu; Phạm vi nghiên cứu; Ý nghĩa và hạn chế của nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết 4 Bao gồm các khái niệm, lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến luận văn; từ đó đưa ra khung phân tích và giả thuyết của luận văn. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Bao gồm việc xác định phương pháp và hình thức chọn mẫu; kích thước mẫu; loại dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu, các phương pháp phân tích và xử lý số liệu, các phương pháp kiểm định. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả có được từ việc phân tích dữ liệu thu thập và thống kê theo giới tính, độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn và thương hiệu xe mà đối tượng được khảo sát sử dụng, cụ thể là: kiểm định các thang đo lường qua phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA và kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến đến ý định mua xe gắn máy tay ga của người dân Tp.
Thủ Dầu Một. Từ những kết quả đánh giá cường độ tác động của từng yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm của khách hàng đối với mặt hàng xe máy tay ga như trên, tác giả sẽ đưa ra các gợi ý giải pháp ở chương tiếp theo. Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị Tóm tắt các kết quả có được từ nghiên cứu và những đóng góp của các kết quả nghiên cứu này. Hai nội dung lớn được trình bày gồm: Tóm tắt lại các kết quả phát hiện được, trình bày ý nghĩa thực tiễn đạt được của nghiên cứu; từ đó gợi ý các giải pháp cho các hãng xe, các đại lý, cửa hàng đang kinh doanh mặt hàng xe gắn máy tay ga nhằm tăng khả năng tiêu thụ các sản phẩm xe gắn máy tay ga trên thị trường, với giá thành phù hợp, thân thiện với người tiêu dùng.
5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan đến ý định mua xe gắn máy tay ga của người tiêu dùng Theo nhà kinh tế học nổi tiếng Kotler (2009), ông nêu ra các khái niệm về người tiêu dùng, hành vi người tiêu dùng và giai đoạn mua hàng như sau: “Người tiêu dùng hay người tiêu thụ là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các cá nhân hoặc hộ gia đình dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế”. Hay nói cách khác, người tiêu dùng được hiểu là người mua, người có nhu cầu sử dụng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường phục vụ cho mục đích tiêu dùng, người tiêu dùng là người sử dụng cuối cùng hoặc khách hàng cuối cùng. “Hành vi người tiêu dùng là hành động của người tiêu dùng liên quan đến mua sắm và tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ: tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm, tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ để thõa mãn nhu cầu, từ đó đưa ra đánh giá và loại bỏ sản phẩm dịch vụ.
Hành vi người tiêu dùng là những quyết định của người tiêu dùng liên quan đến việc sử dụng nguồn lực: tài chính, thời gian, công sức, kinh nghiệm tham gia trao đổi để thõa mãn nhu cầu, mong muốn cá nhân.” “Giai đoạn mua hàng là giai đoạn thứ tư trong quy trình; thì giai đoạn này có thể bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất là quan điểm của người khác và mức độ sẵn lòng nghe theo các quan điểm này của người mua”. Ví dụ như bạn đang muốn mua một chiếc máy chụp hình Canon 700D body, bạn sẽ chịu tác động của 2 yếu tố, yếu tố thứ nhất, bạn muốn mua nhưng bạn của bạn là một tay nhiếp ảnh và anh ấy khuyên bạn không nên mua chiếc máy ảnh này thì việc này sẽ làm bạn cân nhắc có nên mua hay không sản phẩm này; yếu tố thứ hai tác động là do các tình huống bất ngờ, không thể dự đoán được như suy thoái kinh tế, suy giảm tiền lương. Theo Dodds và cộng sự (1991) thì “ý định mua thể hiện khả năng mua một sản phẩm nào đó của người tiêu dùng”, hay có thể được hiểu cách khác là “ý định mua tượng trưng cho những gì mà một cá nhân muốn mua trong tương lai” theo Long và Ching (2010).
Và theo Samin và cộng sự (2012) thì cho rằng “ý định mua là những gì chúng ta nghĩ chúng ta sẽ mua”. 6 Xe gắn máy tay ga hay xe tay ga, được thương hiệu Honda định nghĩa như sau: “Scooter là cách gọi chung cho dòng xe tay ga, để phân biệt với các loại xe máy thông thường. Các mẫu xe thuộc dòng Scooter cho phép người lái có thể dễ dàng bước qua khung (step-through frame) và có không gian sàn để chân phía trước khá rộng. Kiểu thiết kế này xuất hiện từ khá sớm trong ngành công nghiệp xe máy”.
Các lý thuyết liên quan 2.1 Thuyết quyết định tiêu dùng của khách hàng của Kotler (2011) Theo Kotler (2011), việc mua sắm của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi các nhóm nhân tố nội tại (nhân tố tâm lý và nhân tố cá nhân), nhân tố bên ngoài (nhân tố văn hóa và nhân tố xã hội). Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy song song với các nhân tố đặc điểm của người mua thì thành phần marketing 4P bao gồm: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place), chiêu thị (Promotion) cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng. Khách hàng sẽ chọn mua hàng của những doanh nghiệp nào mà họ có thể nhận được giá trị dành cho họ là cao nhất (gọi là giá trị dành cho khách hàng) và nếu sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được những mong muốn của khách hàng thì họ sẽ trung thành, mà hệ quả là họ sẽ mua lại ở những lần tiếp theo và mua nhiều hơn, đồng thời quảng cáo hộ công ty đến những người tiêu dùng khác. Vì vậy, để thu hút và giữ khách hàng, công ty cần nắm vững các yếu tố quyết định giá trị và sự thỏa mãn của khách hàng.
Vận dụng thuyết nhu cầu của Kotler: Theo Philip Kotler thì các nhà cung cấp các sản phẩm xe gắn máy cần nhằm đến đáp ứng sản phẩm với chất lượng tốt, đẹp về mẫu mã, bền về thời gian, giá thành cạnh tranh, hệ thống phân phối phải thuận tiện, chất lượng phục vụ tại các đại lý phân phối phải tốt và phải có chính sách khuyến mãi, hậu mãi tốt; khách hàng sẽ chọn những nhà cung cấp đáp ứng tốt nhất các điều kiện trên.2 Thuyết hành vi hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975) Theo Fishbein và Ajzen (1975) khẳng định con người thường cân nhắc kết quả của các hành động khác nhau trước khi thực hiện chúng và họ chọn thực hiện các hành động sẽ dẫn đến những kết quả họ mong muốn. Công cụ tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định. Hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành động (BI) của 7 một người. Ý định là kế hoạch hay khả năng một người nào đó sẽ thực hiện một hành động cụ thể trong một bối cảnh nhất định.
Ý định là đại diện về mặt nhận thức của sự sẵn sàng thực hiện một hành động nào đó. Ý định hành động là động lực chính dẫn đến hành vi. Fishbein và Ajzen đề xuất rằng ý định hành động chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan. Nếu một người mong đợi và cho rằng hành vi sẽ mang lại kết quả tích cực và cảm thấy những người quan trọng (có ảnh hưởng đối với cá nhân) khuyến khích, ủng hộ việc thực hiện hành vi này thì ý định thực hiện hành vi sẽ được hình thành.1 Mô hình Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975) Vận dụng thuyết hành vi hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen: Như vậy theo thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) thì nếu các nhà cung cấp các sản phẩm xe gắn máy tay ga tạo được niềm tin vào những sản phẩm của họ tạo ra có chất lượng, độ bền, tính thẩm mỹ cũng như đáp ứng những yêu cầu về mặt kỹ thuật lẫn kinh tế, người tiêu dùng sẽ có thái độ tốt đến sản phẩm và dẫn đến họ có xu hướng mua sản phẩm đó trong tương lai.
Vì thế các đại lý phân phối/ nhà sản xuất cần phải tạo ra một hình ảnh thương hiệu chất lượng tốt trong mắt người tiêu dùng thông qua các chương trình quảng cáo, truyền thông, các cuộc thi về an toàn giao thông nhằm thể hiện những đặc tính tốt của sản phẩm để người tiêu dùng biết và mua sản phẩm.3 Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planed Behavior - TPB) là lý thuyết kế thừa và phát triển từ thuyết hành vi hợp lý của Fishbein và Ajzen (1975), nhằm bổ sung việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý chí. Thuyết hành vi dự định cũng lấy nhân tố trung tâm là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định. Ý định được cho là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi, nó là chỉ báo cho việc con người sẽ cố gắng đến mức nào, hay dự định sẽ dành bao nhiêu nỗ lực vào việc thực hiện một hành vi cụ thể. Theo Ajzen, ý định càng mạnh thì khả năng hành vi được thực hiện càng lớn và ý định chịu ảnh hưởng rất lớn bởi thái độ và chuẩn mực chủ quan.
Tuy nhiên việc thực hiện các hành vi đều chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố cản trở như sự sẵn có của những nguồn lực hay những cơ hội cần thiết. Những nhân tố này đại diện cho sự kiểm soát hành vi trong thực tế của cá nhân. Nếu các nguồn lực hay cơ hội cần thiết được thỏa mãn sẽ làm nảy sinh ý định hành động và cùng với ý định hành động thì hành vi sẽ được thực hiện. Vì vậy, trong học thuyết này, Ajzen cho rằng ý định thực hiện hành vi chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố: (1) thái độ đối với hành vi, (2) chuẩn mức chủ quan và (3) nhận thức về kiểm soát hành vi Hình 2.2 Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) 9 Vận dụng thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen: Mô hình TPB được xem như tối ưu những dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong nghiên cứu.