Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Hồi Hương Làm Việc Của Sinh Viên Ngoại Thành Học Tập Tại TP.HCM

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hồi hương làm việc của sinh viên ngoại thành học tập tại TPHCM, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2015

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH HỒI HƯƠNG LÀM VIỆC

1.1. Thuyết hành động hợp lý (TRA)

1.2. Thuyết hành vi dự định (TPB)

1.3. Nghiên cứu định tính

1.4. Đề xuất mô hình nghiên cứu

1.4.1. Ý định hồi hương làm việc

1.4.2. Cơ hội việc làm

1.4.3. Tình cảm với quê hương

1.4.4. Hỗ trợ từ gia đình

1.4.5. Môi trường kinh tế - xã hội của quê hương

1.5. Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với ý định về quê làm việc của sinh viên học tập tại TP Hồ Chí Minh

1.5.1. Mối quan hệ giữa Cơ hội việc làm với ý định về quê làm việc của sinh viên học tập tại TP Hồ Chí Minh

1.5.2. Mối quan hệ giữa Tình cảm với quê hương với ý định về quê làm việc của sinh viên học tập tại TP Hồ Chí Minh

1.5.3. Mối quan hệ giữa Hỗ trợ từ gia đình với ý định về quê làm việc của sinh viên học tập tại TP Hồ Chí Minh

1.5.4. Mối quan hệ giữa Môi trường kinh tế - xã hội ở quê hương với ý định về quê làm việc của sinh viên học tập tại TP Hồ Chí Minh

1.5.5. Mối quan hệ giữa Thu nhập tại quê hương với ý định về quê làm việc của sinh viên học tập tại TP Hồ Chí Minh

1.5.6. Mối quan hệ giữa đặc điểm của sinh viên với ý định về quê làm việc của sinh viên học tập tại TP Hồ Chí Minh

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. Quy trình nghiên cứu và mô hình nghiên cứu dưới dạng toán học

2.2. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

2.3. Bảng câu hỏi

2.4. Tóm tắt kết quả nghiên cứu định tính

2.5. Xây dựng thang đo

2.6. Đánh giá sơ bộ thang đo trên 50 mẫu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

3.2. Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha

3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

3.4. Phân tích hồi quy tuyến tính

3.5. Phân tích hồi quy

3.6. Kiểm định các giả thuyết hồi quy bằng mô hình hồi quy tuyến tính từ dữ liệu của mẫu

3.7. Kiểm định sự khác biệt về các đặc điểm của mẫu ảnh hưởng tới ý định về quê làm việc

3.8. Kiểm định T-Test đối với hai nhóm sinh viên nam - nữ

3.9. Kiểm định ANOVA đối với các nhóm sinh viên

3.10. Tổng hợp kết quả nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Kết luận và đóng góp của đề tài

4.2. Ý nghĩa của đề tài

4.3. Kiến nghị chính sách nhằm thu hút sinh viên hồi hương làm việc khi học tập tại thành phố Hồ Chí Minh

4.3.1. Xu hướng hồi hương làm việc của sinh viên trong thời gian tới

4.3.2. Các chính sách nhằm thu hút sinh viên hồi hương làm việc khi học tập tại thành phố Hồ Chí Minh

4.3.2.1. Cải thiện thu nhập cho sinh viên tốt nghiệp
4.3.2.2. Tăng cường các chính sách ưu đãi của địa phương nhằm thu hút sinh viên làm việc
4.3.2.3. Xây dựng hình ảnh quê hương

4.4. Những điểm hạn chế của đề tài và phương hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về yếu tố ảnh hưởng đến ý định hồi hương làm việc

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định hồi hương làm việc của sinh viên ngoại thành tại TP.HCM là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là tại TP.HCM, nơi tập trung nhiều cơ hội việc làm. Tuy nhiên, nhiều sinh viên vẫn có ý định trở về quê hương làm việc. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các địa phương có chiến lược thu hút nhân lực hiệu quả hơn.

1.1. Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến ý định hồi hương

Yếu tố kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định hồi hương của sinh viên. Cơ hội việc làm tại quê hương, mức thu nhập và điều kiện sống là những yếu tố chính. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên thường ưu tiên những nơi có mức thu nhập cao và cơ hội thăng tiến tốt.

1.2. Yếu tố xã hội và tâm lý trong quyết định hồi hương

Tình cảm với quê hương và sự hỗ trợ từ gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định hồi hương. Nhiều sinh viên cảm thấy có trách nhiệm với gia đình và quê hương, điều này thúc đẩy họ trở về làm việc. Hơn nữa, môi trường xã hội tại quê hương cũng ảnh hưởng đến tâm lý của sinh viên.

II. Thách thức trong việc thu hút sinh viên hồi hương làm việc

Mặc dù có nhiều yếu tố tích cực, nhưng việc thu hút sinh viên hồi hương làm việc vẫn gặp nhiều thách thức. Cạnh tranh từ các thành phố lớn, đặc biệt là TP.HCM, là một trong những lý do chính khiến sinh viên ngần ngại trở về quê. Các địa phương cần nhận diện và giải quyết những thách thức này để thu hút nhân lực.

2.1. Cạnh tranh từ môi trường làm việc tại TP.HCM

TP.HCM là trung tâm kinh tế lớn với nhiều cơ hội việc làm hấp dẫn. Điều này tạo ra áp lực lớn cho các địa phương trong việc thu hút sinh viên hồi hương. Các chính sách cần được thiết kế để tạo ra môi trường làm việc cạnh tranh hơn tại quê hương.

2.2. Thiếu cơ hội phát triển nghề nghiệp tại quê hương

Nhiều sinh viên lo ngại rằng việc trở về quê sẽ hạn chế cơ hội phát triển nghề nghiệp. Địa phương cần cải thiện cơ sở hạ tầng và phát triển các ngành nghề phù hợp để tạo ra cơ hội việc làm hấp dẫn cho sinh viên.

III. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hồi hương

Để hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hồi hương, nghiên cứu cần áp dụng các phương pháp định tính và định lượng. Việc khảo sát trực tiếp sinh viên sẽ giúp thu thập thông tin chính xác và đáng tin cậy.

3.1. Phương pháp khảo sát định lượng

Khảo sát định lượng sẽ được thực hiện thông qua bảng hỏi với các câu hỏi liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng. Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố.

3.2. Phương pháp phỏng vấn định tính

Phỏng vấn định tính sẽ giúp khai thác sâu hơn về tâm lý và cảm xúc của sinh viên đối với việc hồi hương. Các cuộc phỏng vấn sẽ được thực hiện với một nhóm nhỏ sinh viên để thu thập thông tin chi tiết và phong phú.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hồi hương của sinh viên. Những thông tin này sẽ là cơ sở để các địa phương xây dựng chính sách thu hút nhân lực hiệu quả.

4.1. Phân tích kết quả khảo sát

Kết quả khảo sát sẽ cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như cơ hội việc làm, tình cảm với quê hương và hỗ trợ từ gia đình. Những yếu tố này sẽ được phân tích để xác định yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định hồi hương.

4.2. Đề xuất chính sách thu hút sinh viên

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các địa phương cần xây dựng chính sách thu hút sinh viên hồi hương. Các chính sách này có thể bao gồm cải thiện điều kiện sống, tăng cường cơ hội việc làm và hỗ trợ từ gia đình.

V. Kết luận và triển vọng tương lai

Việc thu hút sinh viên hồi hương làm việc là một thách thức lớn nhưng cũng là cơ hội để phát triển kinh tế địa phương. Các địa phương cần nỗ lực hơn nữa để tạo ra môi trường làm việc hấp dẫn và hỗ trợ sinh viên trở về quê hương.

5.1. Tóm tắt các yếu tố chính

Các yếu tố kinh tế, xã hội và tâm lý đều có ảnh hưởng lớn đến ý định hồi hương của sinh viên. Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ giúp các địa phương có chiến lược thu hút hiệu quả hơn.

5.2. Triển vọng tương lai cho sinh viên hồi hương

Trong tương lai, nếu các địa phương cải thiện được điều kiện sống và làm việc, số lượng sinh viên hồi hương có thể gia tăng. Điều này sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của các địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hồi hương làm việc của các sinh viên ngoại thành học tập tại tphcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH HỒI HƯƠNG LÀM VIỆC 1.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20, được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Mark, C. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được nêu ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen & Fishben, 1980; Canary & Seibold, 1984; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Ajzen, 1991, tr. 181 -186), theo đó ý định thực hiện hành vi được thể hiện qua xu hướng thực hiện hành vi.

Ý định bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) Niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ Ý định nghĩ rằng người bị ảnh hưởng nên hay không thực hiện hành vi Chuẩn chủ quan Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng (Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989, trích trong Chutter M.3) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo học thuyết TRA của Ajzen và Fishbein, ý định hành vi (Behavior Intention - BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi. Ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ cá nhân (Attitude Toward Behavior - AB) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) (Hình 1. Trong đó, thái độ (Attitude Toward Behavior) là yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực, đồng tình hay phản đối của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ, hoặc đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó. Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức, suy nghĩ của những người ảnh hưởng (có quan hệ gần gũi với người có ý định thực hiện hành vi như: người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) nghĩ rằng người đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi (Ajzen, 1991, tr.

Ý định hành vi (BI) là một hàm gồm thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan đối với hành vi đó.SN Trong đó, W1 và W2 là các trọng số của thái độ (AB) và chuẩn chủ quan (SN). Theo Gordron Allport (1970): “Thái độ là một thiên hướng tổng quát về một người hay vật”. Theo Turstone (Mowen & Monor, 2006, tr. 124): “Thái độ là một lượng cảm xúc thể hiện sự thuận lòng hay trái ý của một người về một ngoại tác nào đó”.

Theo Sschiffinan & Kanuk (1987), thái độ được miêu tả gồm 3 thành phần: nhận thức, cảm xúc hay sự ưa thích và ý định hành vi. Trong đó: Nhận thức liên quan đến sự hiểu biết về một đối tượng thông qua những thông tin nhận được liên quan đến đối tượng đó và kinh nghiệm có được khi thực hiện hành vi đó, từ đó hình thành niềm tin của họ đối với hành vi. Cảm xúc hay sự ưa thích đại diện cho cảm giác chung về việc thích hay không thích đối tượng đó. Thành phần thể hiện sự ưa thích nói chung về đối tượng chứ không phân biệt từng thuộc tính của đối tượng.

Sự đánh giá chung này có thể là mơ hồ, có thể chỉ là sự đánh giá chung chung về từng hành vi dựa trên vài thuộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cảm xúc thường đề cập như một thành phần chủ yếu của thái độ còn các thành phần còn lại chỉ có chức năng hỗ trợ. Thái độ trong mô hình TRA làm sáng tỏ mối tương quan giữa nhận thức và sự thích thú. Người ra quyết định sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau.

Nếu biết được các thuộc tính quan trọng đó thì có thể dự đoán gần với kết quả lựa chọn nhất. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể đo lường một cách trực tiếp thông qua việc đo lường cảm xúc về phía những người có liên quan sẽ nghĩ gì về ý định của họ và động cơ của người có ý định làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng.2 Thuyết hành vi dự định (TPB) Thuyết hành vi dự định (Theory of Planed Behavior - TPB) của Ajzen (1991) được phát triển từ thuyết hành động hợp lý của Ajzen & Fishbein (1975) giả định một hành vi có thể được dự báo hoặc được giải thích bởi ý định để thực hiện hành vi đó. Theo Ajzen (1991), sự ra đời của thuyết hành vi dự định TPB xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người là yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi mà con người có ít sự kiểm soát. Nhân tố thứ ba mà Ajzen cho rằng có ảnh hưởng đến ý định của con người là nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi.

Theo đó TPB cho rằng ý định được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực cá nhân để thực hiện hành vi;ý định là tiền đề gần nhất của hành vi và được dự đoán lần lượt bởi thái độ (Attitude Toward Behavior - AB), chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) và nhận thức kiểm soát hành vi (PerceivedBehavirolControl -PBC). TPB giả định thêm rằng những phần hợp thành lần lượt được xác định bởi kỳ vọng nổi bật nhất và ước lượng kỳ vọng cho mỗi thành phần đó: kỳ vọng hành vi về thái độ đối với một hành vi cho sẵn, hoặc kỳ vọng cụ thể về kết quả của việc thực hiện hành vi. Kỳ vọng về chuẩn chủ quan đến nhận thức tán thành và không tán thành thực hiện hành vi của những người quan trọng khác. Kỳ vọng về kiểm soát liên quan tới những yếu tố thuận tiện haycản trở việc thực hiện hành vi.

Như vậy, theo TPB ý định thực hiện hành vi là một hàm của ba nhân tố (hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) Kỳ vọng Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi (Nguồn: Ajzen, I., The Theory of Planned Behaviour, 1991, tr. 182) Thứ nhất, nhân tố thái độ (Attitude Toward Behavior - AB) được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Ajzen lập luận rằng một cảm xúc tích cực hay tiêu cực cá nhân, cụ thể là thái độ thể hiện một hành vi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý và các tình huống đang gặp phải.

Thứ hai, chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) hay ảnh hưởng xã hội được định nghĩa là “áp lực xã hội nhận thức để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” (Ajzen, 1991). Ảnh hưởng xã hội đề cập đến những ảnh hưởng và tác động của những người quan trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi. Thứ ba, nhận thức kiểm soát hành vi (PerceivedBehavirolControl - PBC)phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát, hạn chế hay không (Ajzen, 1991, tr. Ajzen (1991) đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi và nếu người tiêu dùng chính xác trong nhận thức của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi.

Ajzen (1988) khẳng định những kỳ vọng này là những thông tin nền tảng của hành vi và nguyên nhân của hành vi một cách cơ bản là bởi những kỳ vọng này. Vì thế, sự thay đổi trong những kỳ vọng nên dẫn đến sự thay đổi về hành vi. Dựa vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nguyên nhân căn bản này, một số nhà nghiên cứu đã tạo ra sự can thiệp để thay đổi kỳ vọng để xác định xem người ta có thay đổi hành vi hay không. Một số khác đã khám phá sự ảnh hưởng của chính sách can thiệp bằng cách kiểm tra sự thay đổi kỳ vọng sau khi áp dụng chính sách.

TPB đã được áp dụng thành công để dự đoán và giải thích các hành vi khác nhau như: lựa chọn đánh giá, giảm cân, ngừng hút thuốc, vi phạm giao thông, vv., nó cung cấp một khuôn khổ lý thuyết chi tiết có liên quan cho việc hợp nhất nhiều cấu trúc chìa khóa và định nghĩa rõ ràng về mỗi cấu trúc trong lý thuyết. Ngoài ra, thuyết hành vi dự định đã được áp dụng rất nhiều trong các nghiên cứu về giao thông cũng như quyết định lựa chọn nơi làm việc (Nitchapa Morathop, Chamaiporn Kanchanakitsakul, Pramote Prasartkul Bhuddipong Satayavongthip, 2006…). Hạn chế của mô hìnhTPB: Thứ nhất, TPB như là một sự thay thế cho giới hạn kiểm soát ý chí của TRA và cho thấy rằng hành vi là có chủ ý và có kế hoạch. Tuy nhiên TPB dựa trên niềm tin rằng mọi người đều có suy nghĩ hợp lý và đưa ra những quyết định hợp lý dựa trên thông tin sẵn có, vì thế động cơ vô thức không được đưa vào xem xét trong mô hình TPB.

Nghĩa là, TPB chưa khắc phục được hết những hạn chế của TRA (Godin Kok, 1996). TPB đánh giá dựa trên những kỳ vọng, khi một trong số các kỳ vọng thay đổi thì sẽ dẫn đến sự thay đổi về hành vi. Thứ hai, thực tế các yếu tố để xác định ý định thì không giới hạn thái độ, ảnh hưởng xã hội và kiểm soát hành vi (Ajzen 1991). Vì thế, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng chỉ có 40% biến thiên ý định của hành vi có thể được giải thích bằng TPB (Ajzen 1991, Werner).

Nghĩa là, có thể mở rộng các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến ý định của hành vi.3 Nghiên cứu định tính 1.1 Thảo luận Mục đích của phần thảo luận này là nhằm tìm hiểu thông tin, tìm hiểu các yếu tố nào ảnh hưởng tới ý định hồi hương làm việc của sinh viên học tập tại thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 phố Hồ Chí Minh. Dựa trên các kết quả thu thập được, tác giả xây dựng các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định về quê làm việc của sinh viên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ