Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. 4 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng 2.1 Khái niệm về hành vi người tiêu dùng Theo Peter D. Bennet (1988), hành vi của người tiêu dùng là “những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ”. Engel, Blackwell và Miniard (1990), lập luận rằng những hành động liên quan trực tiếp đến việc tiêu thụ, xử lý các sản phẩm và dịch vụ, bao gồm các quá trình quyết định trước và sau các hành động này được xem là hành vi của người tiêu dùng.
Theo Schiffman và Kanuk (1997) giải thích rằng hành vi của người tiêu dùng nghiên cứu về cách các cá nhân đưa ra quyết định sử dụng những nguồn lực sẵn có của họ (thời gian, tiền bạc, công sức) vào các hạng mục liên quan đến tiêu dùng. Nó bao gồm nghiên cứu về những gì, tại sao, khi nào, ở đâu và tần suất họ mua hàng cũng như cách họ sử dụng sản phẩm. Lamb và cộng sự (2000) cho rằng “Hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ”. Theo Kotler và Keller (2012), việc hiểu rõ hành vi mua của người tiêu dùng, cụ thể là hành vi tiêu dùng sản phẩm của chính doanh nghiệp mình đang kinh doanh chính là chìa khóa then chốt để các nhà quản trị đưa ra chiến lược cạnh tranh hợp lý và đúng đắn.
Chính vì thế, các nhà quản trị cần phải biết rõ: Ai mua? Khách hàng; Họ mua gì? Sản phẩm; Tại sao họ mua? Mục tiêu; Những ai tham gia vào việc mua? Tổ chức; Họ mua như thế nào? Hoạt động; Khi nào họ mua? Cơ hội; Họ mua ở đâu? Nơi bán. Tùy theo từng quy mô hoạt động và lĩnh vực kinh doanh mà các doanh nghiệp có những chiến lược marketing khác nhau. Tuy nhiên, quan trọng là các nhà quản trị phải hiểu rõ và xác định được mức độ ảnh hưởng đến người tiêu dùng của những tác 6 nhân marketing khác nhau mà họ đã sử dụng, điều này giúp doanh nghiệp có lợi thế hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh. Kotler và Keller (2012) đã hệ thống các yếu tố dẫn tới quyết định mua sắm của người tiêu dùng được trình bày trong hình 2.
Hộp đen của người mua Các tác Các tác Đặc điểm của Tiến trình quyết định của Quyết định của nhân nhân khác người mua người mua người mua Marketing Sản phẩm Kinh tế Văn hóa Nhận thức vấn đề Chọn Sản phẩm Giá Cả Chính Trị Xã Hội Tìm kiếm thông tin Chọn nhãn hiệu Phân Phối Công nghệ Cá tính Đánh giá Chọn đại lý Cổ đông Văn Hóa Tâm lý Quyết định Định thời gian Hành vi mua Định số lượng Hình 2.1 Mô hình hành vi của người tiêu dùng. (Nguồn: Kotler & Keller, 2012) Từ mô hình trên cho thấy, các yếu tố marketing bao gồm: sản phẩm, giá cả, phân phối, cổ động và các tác nhân khác: kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa tác động vào “hộp đen của người mua”. Mỗi người tiêu dùng có “hộp đen” khác nhau và được xác định bởi những đặc điểm văn hóa, xã hội, cá tính và tâm lý cũng như tiến trình quyết định của người mua bao gồm: nhận thức vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá, quyết định, hành vi mua. Và kết quả là đưa đến một quyết định mua sắm nhất định gồm: loại sản phẩm, nhãn hiệu, nơi mua, lúc mua và số lượng mua.
Công việc chủ yếu của người làm marketing là tìm hiểu các tác nhân được chuyển thành những đáp ứng ra sao ở bên trong “hộp đen” của người mua. Hộp đen có hai nhóm yếu tố: (1) Những đặc tính của người mua, tác động đến việc người đó đã cảm nhận và phản ứng ra sao trước các tác nhân; (2) Tiến trình quyết định của người mua ảnh hưởng đến các kết quả.2 Quy trình ra quyết định Theo Kotler và Keller (2012) các bước của quá trình thông qua quyết định mua sản phẩm diễn ra qua năm giai đoạn, được trình bày trong hình 2. Nhận biết Tìm kiếm Đánh giá các Quyết định Hành vi sau nhu cầu thông tin lựa chọn mua khi mua Hình 2.2 Các giai đoạn của quá trình thông qua quyết định mua. (Nguồn: Kotler & Keller, 2012) Quá trình này bắt đầu từ nhận biết nhu cầu, các yếu tố kích thích bên trong hoặc bên ngoài, trong trường hợp của nghiên cứu này là nhu cầu mua nhà ở.
Giai đoạn thứ hai, là tìm kiếm thông tin về sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau. Những nguồn thông tin chủ yếu này được chia thành bốn nhóm bao gồm: nguồn thông tin cá nhân (gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen), nguồn thông tin thương mại (quảng cáo, nhân viên bán hàng, đại lý, bao bì, triển lãm), nguồn thông tin công cộng (các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức nghiên cứu người tiêu dùng), nguồn thông tin thực nghiệm (sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm). Mỗi nguồn thông tin thực hiện một chức năng khác nhau trong một mức độ nào đó tác động đến quyết định mua sản phẩm. Ví dụ, nguồn thông tin thương mại thường thực hiện chức năng thông báo, còn nguồn thông tin cá nhân thì thực hiện chức năng khẳng định hay đánh giá.
Giai đoạn thứ ba là đánh giá các lựa chọn, trước khi đưa ra quyết định mua sản phẩm, người tiêu dùng xử lý thông tin thu được rồi đưa ra đánh giá giá trị của các nhãn hiệu cạnh tranh. Người tiêu dùng sẽ chọn mua nhãn hiệu nào có thể đáp ứng cao nhất những thuộc tính mà họ đang quan tâm, nghĩa là đạt được tổng số điểm đánh giá cao nhất. Tuy nhiên, kết quả đánh giá này phụ thuộc vào điều kiện tâm lý và bối cảnh cụ thể diễn ra hành vi mua sản phẩm của người tiêu dùng. Vì thế, nhiệm vụ của những người làm marketing là phải hiểu được người tiêu dùng đánh giá như thế nào đối với 8 các nhãn hiệu để thiết kế lại sản phẩm của mình có những đặc tính mà người tiêu dùng ưa chuộng thuyết phục người mua chú ý hơn đến những đặc tính mà sản phẩm mình có ưu thế, tìm cách thay đổi những tin tưởng của người tiêu dùng về những đặc tính quan trọng của sản phẩm mà họ đánh giá sai.
Giai đoạn thứ tư, là ra quyết định mua sản phẩm, sau khi đánh giá các lựa chọn, người tiêu dùng đi đến ý định mua. Ý định mua của người tiêu dùng thường dành cho những sản phẩm được đánh giá cao nhất. Theo Philip Kotler (2009), để đi đến quyết định mua, người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố: (1) Thái độ của người khác (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp), và (2) Các yếu tố hoàn cảnh (như hy vọng về thu nhập gia tăng, mức giá dự tính, sản phẩm thay thế), được mô tả trong hình 2. Thái độ của người khác Đánh Ý định Quyết định giá các mua sản mua sản lựa chọn phẩm Các yếu tố hoàn cảnh phẩm Hình 2.3 Các giai đoạn ra quyết định mua sản phẩm.
(Nguồn: Philip Kotler, 2009) Hai yếu tố trên có thể làm thay đổi quyết định mua hoặc không mua hoặc mua một sản phẩm khác mà không phải là sản phẩm tốt nhất như đã đánh giá. Quyết định mua của khách hàng cũng có mối liên kết với ý định mua, đặc biệt là các quyết định liên quan đến mua bất động sản (Ajzen, 1991; Han & Kim, 2010). Những lập luận về việc ra quyết định mua nói trên là cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này khảo sát về những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà ở của các gia đình trẻ tại TP.3 Khái niệm Nhà ở Ngôi nhà được xem là một trong những nhu cầu cơ bản của con người. Ngôi nhà có thể là một tòa nhà năm tầng với đầy đủ các tiện nghi hiện đại trong khu đô thị cho 9 đến một ngôi nhà nhỏ với những tiện nghi cơ bản (John & cộng sự, 2020).
Sự thay đổi về cấu trúc nhà ở phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của chủ sở hữu. Ở các vùng nông thôn hoặc bán nông thôn, các cá nhân sở hữu nhà ở độc lập do có sẵn quỹ đất, trong khi ở khu vực thành thị, không gian hạn hẹp nên diện tích của bất động sản hoặc các căn hộ cũng bị hạn chế (Sundrani & Analysis, 2018). Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân (Quốc Hội, 2014).4 Khái niệm và vai trò của Gia đình trẻ 2.1 Khái niệm Gia đình: là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật (Nguyễn Ngọc Điện, 2007). Gia đình trẻ: Ở Việt Nam hiện nay chưa có văn bản pháp lý trình bày rõ khái niệm về gia đình trẻ.
Hiện có những quan niệm về gia đình trẻ như sau: Theo Nguyễn Hương Ly (2016), Gia đình trẻ là một loại gia đình hạt nhân, gồm gia đình trẻ và con cái của họ, dù sống chung hay riêng, sự trải nghiệm hôn nhân khoảng chục năm với vốn sống, kinh nghiệm xây dựng gia đình chưa thực sự đầy đủ. Gia đình trẻ là gia đình hạt nhân, không mang tính truyền thống sâu sắc là tam tứ đại đồng đường mà chỉ có hai đến ba thế hệ cùng chung sống, chủ hộ gia đình ở tuổi từ 25 đến dưới 40 chịu trách nhiệm chính trong mọi hoạt động và quản lý gia đình (Xuân Nha, 2019). Ngày 20/6/2020 Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã tổ chức Lễ tuyên dương “Gia đình trẻ tiêu biểu”. Đối tượng được tuyên dương là các gia đình có thành viên bố, mẹ và các con mang quốc tịch Việt Nam; trong đó bố và mẹ kết hôn theo đúng Luật Hôn nhân và gia đình; bố và mẹ đều ở độ tuổi không quá 35 tuổi (Bảo Anh, 2020).
Gia đình trẻ thuộc thế hệ gen Y (Millennials) với độ tuổi từ 20 đến 38 tuổi vào năm 2019 (Kurniawan & cộng sự, 2020).