Luận án tiến sĩ những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại các đô thị ở việt nam nghiên cứu trường hợp thành phố hà nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại các, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

184
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. DỊCH VỤ CÔNG VÀ DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH TRONG ĐÔ THỊ

1.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TRONG ĐÔ THỊ

1.2.1. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt và phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong đô thị

1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong đô thị

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI ĐÔ THỊ

2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ VÀ DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI ĐÔ THỊ

2.1.1. Dịch vụ vận tải hành khách công cộng tại đô thị

2.1.2. Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại đô thị

2.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI CÁC ĐÔ THỊ

2.2.1. Nội dung sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại đô thị

2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại đô thị

2.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT

2.3.1. Thủ đô Tokyo - Nhật Bản

2.3.2. Thủ đô Seoul - Hàn Quốc

2.3.3. Bài học rút ra cho Việt Nam

2.4. XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. KHÁI QUÁT QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

3.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

3.3. NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.3.1. Mục tiêu và đối tượng tiến hành nghiên cứu định tính

3.3.2. Hình thức thu thập dữ liệu

3.3.3. Nội dung nghiên cứu định tính

3.4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

3.4.1. Lựa chọn mẫu nghiên cứu

3.4.2. Xây dựng thang đo các biến định lượng

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1. TỔNG QUAN VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI CÁC ĐÔ THỊ TRÊN TOÀN QUỐC VÀ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1.1. Tổng quan về vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại các đô thị trên toàn quốc

4.1.2. Khái quát về dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Thành phố Hà Nội và quản lý nhà nước đối với dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt

4.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.2.1. Phát triển về quy mô dịch vụ

4.2.2. Phát triển mạng lưới

4.2.3. Phát triển về chất lượng dịch vụ

4.2.4. Phát triển về dịch vụ gia tăng

4.3. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE BUÝT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

4.3.1. Kết quả nghiên cứu định tính

4.3.2. Kết quả nghiên cứu định lượng

5. CHƯƠNG 5: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI CÁC ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020-2025 VÀ TẦM NHÌN 2030 – QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HÀ NỘI

5.1. NHỮNG XU HƯỚNG CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT CỦA CÁC ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM

5.1.1. Những xu hướng chủ yếu tác động phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại các đô thị

5.1.2. Mục tiêu, quan điểm trong phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở các đô thị tại Việt Nam

5.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI HÀ NỘI VÀ CÁC ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM - QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HÀ NỘI

5.2.1. Các giải pháp về phía Chính quyền

5.2.2. Các giải pháp từ phía đơn vị kinh doanh vận chuyến hành khách công cộng bằng xe buýt

5.3. KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội

Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội đang trở thành một phần quan trọng trong hệ thống giao thông đô thị. Sự phát triển này không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân mà còn góp phần giảm thiểu ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của hành khách.

1.1. Tình hình hiện tại của dịch vụ vận tải hành khách công cộng

Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội hiện đang gặp nhiều thách thức. Mặc dù có sự gia tăng về số lượng xe buýt, nhưng chất lượng dịch vụ vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của người dân. Nhiều tuyến xe buýt vẫn chưa được cải thiện về thời gian và độ tin cậy.

1.2. Vai trò của dịch vụ xe buýt trong hệ thống giao thông

Dịch vụ xe buýt đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các khu vực đô thị và giảm tải cho các phương tiện cá nhân. Điều này không chỉ giúp giảm ùn tắc giao thông mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Tuy nhiên, cần có các chính sách hỗ trợ để phát triển dịch vụ này một cách hiệu quả.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt

Nhiều yếu tố tác động đến sự phát triển của dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội. Những yếu tố này bao gồm cơ sở hạ tầng giao thông, chính sách phát triển giao thông, và nhận thức của người dân về dịch vụ. Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp đưa ra giải pháp phù hợp.

2.1. Cơ sở hạ tầng giao thông và chất lượng dịch vụ

Cơ sở hạ tầng giao thông là yếu tố quyết định đến chất lượng dịch vụ vận tải hành khách. Hệ thống đường sá, bến xe, và các điểm dừng đỗ cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của hành khách.

2.2. Chính sách phát triển giao thông và sự hỗ trợ từ chính quyền

Chính sách phát triển giao thông của chính quyền thành phố có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của dịch vụ xe buýt. Các chính sách cần được thiết kế để khuyến khích sử dụng dịch vụ xe buýt, đồng thời giảm thiểu các phương tiện cá nhân. Sự hỗ trợ từ chính quyền sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của dịch vụ.

2.3. Nhận thức của người dân về dịch vụ vận tải hành khách

Nhận thức của người dân về dịch vụ vận tải hành khách công cộng cũng là một yếu tố quan trọng. Nếu người dân không tin tưởng vào chất lượng dịch vụ, họ sẽ không sử dụng xe buýt. Cần có các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ này.

III. Phương pháp cải thiện chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt

Để nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, cần áp dụng các phương pháp cải thiện hiệu quả. Những phương pháp này bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ, và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan.

3.1. Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông

Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông là bước đầu tiên để nâng cao chất lượng dịch vụ. Việc xây dựng các tuyến đường mới, bến xe hiện đại sẽ giúp giảm thiểu ùn tắc và nâng cao trải nghiệm của hành khách. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là cần thiết để phát triển dịch vụ bền vững.

3.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của hành khách

Nâng cao chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng để thu hút hành khách. Cần cải thiện thời gian chờ đợi, độ tin cậy của xe buýt và thái độ phục vụ của nhân viên. Sự hài lòng của hành khách sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của dịch vụ.

3.3. Tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan

Sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân là rất quan trọng trong việc phát triển dịch vụ. Các bên cần làm việc cùng nhau để tìm ra giải pháp tối ưu cho sự phát triển của dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dịch vụ xe buýt tại Hà Nội

Nghiên cứu về dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện chất lượng dịch vụ và cơ sở hạ tầng là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân.

4.1. Kết quả nghiên cứu định tính về dịch vụ xe buýt

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy rằng người dân đánh giá cao dịch vụ xe buýt nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện. Sự hài lòng của hành khách phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian chờ đợi, độ tin cậy và thái độ phục vụ của nhân viên.

4.2. Kết quả nghiên cứu định lượng về sự phát triển dịch vụ

Nghiên cứu định lượng cho thấy rằng có mối quan hệ tích cực giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của hành khách. Các yếu tố như cơ sở hạ tầng, chính sách phát triển và nhận thức của người dân đều có tác động đến sự phát triển của dịch vụ xe buýt.

V. Kết luận và tầm nhìn tương lai cho dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. Tầm nhìn tương lai cho dịch vụ này là phát triển bền vững, hiệu quả và thân thiện với môi trường.

5.1. Tầm nhìn phát triển dịch vụ xe buýt đến năm 2030

Tầm nhìn đến năm 2030 là xây dựng một hệ thống dịch vụ xe buýt hiện đại, hiệu quả và thân thiện với môi trường. Cần có các chính sách hỗ trợ để phát triển dịch vụ này một cách bền vững.

5.2. Các khuyến nghị cho chính quyền và doanh nghiệp

Chính quyền và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ để phát triển dịch vụ xe buýt. Cần có các chính sách khuyến khích sử dụng dịch vụ và đầu tư vào cơ sở hạ tầng để nâng cao chất lượng dịch vụ.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại các đô thị ở việt nam nghiên cứu trường hợp thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Dịch vụ công và dịch vụ vận tải hành khách trong đô thị.1 Dịch vụ công Nói về dịch vụ công, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về vấn đề này có thể kể đến như: Urban Economic analysis (WZ Hirsch – 1973),The distribution of public services: The preliminary model (Bryan D.Jones & Clifford Kaufman - 1974),Urban sprawl and the cost of public services (John I Carruthers& Gudmundur F Ulfarsson – 2003), Public services delivery (World Bank – 2003)tuy nhiên đều thống nhất trong cách định nghĩa “Dịch vụ công”, theo đó Dịch vụ công là những dịch vụ do chính quyền đứng ra thực hiện hoặc ủy quyền và phân phối các loại hàng hóa công cộngmang 1 hoặc 2 đặc tính sau: tính không loại trừ (non-excludable) và không cạnh tranh (non-rival). Các nghiên cứu trong nước lại cho thấy một góc nhìn khác về định nghĩa của dịch vụ công khi tập trung vào chủ thể cung ứng cũng như đối tượng thụ hưởng và những lợi ích xã hội đặc biệt mà loại hình dịch vụ này mang lại Đầu tiên là quan điểm của Nguyễn Ngọc Hiến (2002), ông cho rằng khái niệm dịch vụ công bao hàm nhiều loại dịch vụ khác nhau tuy nhiên chúng có 2 điểm chung sau: thứ nhất, đó là các dịch vụ này đều nhằm phục vụ cho lợi ích chung và thiết yếu của toàn thể xã hội. Thứ 2 đó là dù bằng cách này hay cách khác, Nhà nước luôn phải nắm vai trò chủ thể, chịu trách nhiệm đảm bảo cho quá trình cung ứng các dịch vụ này cho toàn xã hội. Theo Lê Chi Mai (2003), bộ máy nhà nước thực hiện 2 chức năng: chức năng cai trị (governance) và chức năng phục vụ, và dịch vụ công chính là các hoạt động thể hiện chức năng phục vụ cho xã hội, các tổ chức và công dân.

Việc thực hiện chức năng cai trị xuất phát từ yêu cầu của bản thân bộ máy chính quyền, còn việc thực hiện chức năng phục vụ lại xuất phát từ nhu cầu của xã hội, các tổ chức và cá nhân trong xã hội, ngay khi nhu cầu này có thể phát sinh từ các yêu cầu của chức năng quản lý. Tựu chung lại, các khái niệm trên đều cho rằng dịch vụ công là một phần trong nghiệp vụ quản lư nhà nước của các cơ quan công quyền. Dù các tổ chức kinh tế và tư nhân có thể đứng ra thực hiện tuy nhiên trách nhiệm cao nhất trước toàn thể xã hội vẫn thuộc về các cơ quan nhà nước. Trong cuốn sách “Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công” của Đỗ Thị Hải Hà (2007) định nghĩa dịch vụ công trước hết là một loại hình dịch vụ nhưng nó mang thêm đặc tính công, thể hiện ở các điểm sau: do cơ quan công quyền đảm nhận (trực tiếp hoặc thông qua ủy quyền, đấu thầu), tạo ra hàng hóa công cộng phục vụ cho 7 mọi người dân, hoạt động theo thể chế công và theo quan điểm đạo đức công, đáp ứng các nhiệm vụ công và trên hết đó là mang lại lợi ích cho toàn xã hội Có một số quan niệm cho rằng, dịch vụ công hiểu rộng ra là toàn bộ các hoạt động công vụ và hành chính công, tuy nhiên nếu xét như vậy trong cách phân loại chúng ta sẽ bỏ qua một số loại hình dịch vụ công, không tách biết được các chức năng của bộ máy quản lý nhà nước, dẫn đến không xác định được các nhân tố ảnh hưởng chất lượng nhằm cải tiến các hoạt động phù hợp với yếu cầu riêng biệt của từng loại hình dịch vụ công (Lê Chi Mai, 2003).

Theo cách phân loại theo chủ thể cung ứng, chúng ta có 3 loại dịch vụ công như sau (Lê Chi Mai, 2003): Dịch vụ công do các cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp, bao gồm các hoạt động công vụ, hành chính công, các dịch vụ công cộng cơ bản; Dịch vụ công do các tổ chức tư nhân, phi chính phủ cung cấp dưới sự ủy nhiệm và giảm sát của nhà nước, gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện; Dịch vụ công do nhà nước và các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân phối hợp thực hiện (Các hình thức hợp tác công tư PPP). Dựa theo quan niệm của WB và định nghĩa về dịch vụ công là các dịch vụ mang đặc tính công (Đỗ Thị Hải Hà, 2006), chúng ta có cách phân loại dựa trên tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, cụ thể bao gồm các loại sau: Dịch vụ công đặc thù, loại dịch vụ do bộ máy cơ quan Nhà nước đảm nhiệm, thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo chức năng cai trị của Nhà nước đối với xã hội; Dịch vụ hành chính công, bao gồm các hoạt động cung ứng hàng hóa công cộng trực tiếp cho các tổ chức, công dân nhằm đảm bảo việc vận hành của toàn xã hội; Dịch vụ sự nghiệp công, Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng các loại hàng hóa công cộng (dưới dạng các phúc lợi công) như: Giáo dục, y tế, bảo hiểm, an sinh xã hội… cho người dân theo nguyên tắc thu phí, có thể do Nhà nước trực tiếp đảm nhiệm hoặc thông qua xã hội hóa, ủy quyền cho các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân; Dịch vụ công cộng, gồm các dịch vụ có thu phí nhưng mang tính phi lợi nhuận nhằm đáp ứng các nhu cầu bức thiết của người dân, do các cơ sở thực hiện theo yêu cầu của cơ quan hành pháp nhà nước. Các nghiên cứu có sự khác nhau trong việc xác định về vai trò của các bên trong việc cung ứng tài chính và tổ chức cung ứng dịch vụ công. Dựa theo các nghiên cứu được tổng hợp, có thể xác địch dịch vụ xe buýt là một loại hình dịch vụ công, thuộc nhóm các dịch vụ công cộng với mục tiêu đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, chịu sự quản lý, điều chỉnh của Nhà nước, được cung ứng bởi Nhà nước hoặc một bên thứ 3.

Thực tiễn cho thấy ở thành phố Hà Nội, dịch vụ xe buýt đang được cung ứng dưới hình 8 thức Nhà nước trợ giá và cho doanh nghiệp đủ năng lực đấu thầu tham gia cung ứng dưới sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước.2 Đô thị và dịch vụ vận tải hành khách đô thị Hiện nay, các đô thị của Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển, mở rộng và hiện đại hóa mạnh mẽ, nhiều chính sách quy hoạch phát triển được đưa ra nhằm thay đổi bộ mặt của giao thông đường bộ đô thị theo chiều hướng tích cực hơn. Song song với đó, tại Việt Nam cũng đã và đang diễn ra nhiều công trình nghiên cứu thực tế và mạng lại hiệu quả lớn cho bộ mặt GTVT nói chung cũng như vận tải hành khách công cộng nói riêng. Một số công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển đô thị, VTHK đô thị của một số tác giả đáng chú ý gồm có: Ở Việt Nam, đô thị được Nhà nước quy định là các thành phố, thị xã, thị trấn có số dân từ 4000 người trở lên, trong đó trên 65% lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp… (Nghị định số 72/2001/NĐCP của Thủ tướng Chính phủ). Hiện nay quan niệm đó được các nhà quản lý bổ sung thêm một tiêu chuẩn nữa là cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đô thị có thể hoàn chỉnh, đồng bộ hoặc chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ nhưng phải có quy hoạch chung cho tương lai.

Ở một góc nhìn khác, theo Bộ xây dựng trong thông tư liên tịch số 2/TTLT-BXD-TCCBCP, xây dựng trên góc độ quản lý kinh tế - xã hội, thì đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện. Trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đoàn (2009), xem xét trên quan điểm xã hội học, đô thị là một hình thức tồn tại của xã hội trong một phạm vi không gian cụ thể và là một hình thức cư trú của con người. “Sự tồn tại của đô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa độc lập với nhau, ở đây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành. Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó”, tác giả cho biết.

Theo nghiên cứu của Phạm Ngọc Côn (1999), một trong những vấn đề cơ bản của phát triển vùng đô thị là việc xác định phạm vi lãnh thổ, số lượng đô thị và cơ chế phối hợp giữa các đô thị. Trong thực tế, không gian vùng đô thị được xác định trên cơ sở ảnh hưởng của đô thị trung tâm đến các đô thị vệ tinh. Ranh giới vùng mang tính tương đối và tính lịch sử phụ thuộc và sức lan toả của đô thị trung tâm và trình độ quản lý, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của các đô thị vệ tinh. Theo nghiên cứu của Arthur o’Sullivan (2003) xem xét trên phương diện vĩ mô 9 thì đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.

Một số công trình có nhắc tới khái niệm vùng đô thị như: Vùng đô thị là một không gian bao gồm nhiều đô thị có mối quan hệ tương tác với nhau, nương tựa, hỗ trợ, hợp tác để cùng phát triển. Thực chất vùng đô thị là một lãnh thổ với nhiều đô thị có sự liên kết với nhau nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, kinh tế, xã hội trong một thể thống nhất, từ đó tạo ra sự phát triển của mỗi đô thị trong tổng thể phát triển bền vững của toàn bộ hệ thống đô thị. Trong vùng đô thị luôn tồn tại một đô thị trung tâm, từ đô thị trung tâm các đô thị vệ tinh chịu ảnh hưởng với một mức độ nhất định. Theo Athur o’Sullivan (2003), có nhiều quan điểm về việc xác định ranh giới vùng đô thị, song nhìn chung dựa vào phạm vi không gian ảnh hưởng của đô thị trung tâm.

Các mối quan hệ chủ yếu giữa đô thị trung tâm và vùng ảnh hưởng bao gồm - Quan hệ về hành chính - chính trị: bao gồm các mối quan hệ giữa đô thị trung tâm hành chính - chính trị của vùng (như thủ đô, tỉnh lỵ, huyện lỵ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ